Khác

Câu chuyện Liệt sĩ Cao Xuân Nhung Quê tại xã Nghĩa Đồng

Nghệ An01/07/2026Nguyễn Đình Trung (xã Nghĩa Đồng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

TÌM ANH GIỮA ĐẤT QUẢNG TRỊ ANH HÙNG

Mùa hè năm 1972, mảnh đất Quảng Trị rực lửa trong những trận bom cày xới. Tại quê nhà xã Nghĩa Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An( Nay là xã Nghĩa Đồng, tỉnh Nghệ An) một dòng thư báo tử lạnh lùng ập đến: Anh trai tôi – chiến sĩ Cao Xuân Nhung – đã anh dũng hy sinh.

Chỉ mới mười tháng trước, vào tháng 8 năm 1971, anh gác lại tuổi xuân bước vào chiến trường. Khi ngã xuống, anh vừa tròn 19 tuổi. Ngày nhận tin dữ, mẹ tôi khóc ngất trong vòng tay hàng xóm, tiếng gào xé lòng nằng nặc đòi đi tìm mộ con. Là đứa con trai còn lại trong nhà, nhìn mái đầu mẹ bạc trắng sau một đêm, tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của mẹ và hứa: “Khi nào hết chiến tranh, con nhất định sẽ đi tìm anh về cho mẹ”. Lời hứa tuổi thơ ấy đã theo tôi suốt hành trình khôn lớn, trở thành mệnh lệnh từ trái tim.

Năm 1992, khi cuộc sống ổn định tại Sóc Trăng, tôi bắt đầu hành trình vạn dặm tìm anh. Tôi đã đi qua Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Đường 9, rồi nghĩa trang tỉnh Quảng Trị... Đứng trước hàng ngàn ngôi mộ trắng "chưa biết tên", lòng tôi thắt lại vì bất lực. May mắn thay, những manh mối từ đồng đội cũ bắt đầu xuất hiện. Anh Nguyễn Đình Quế từ Đồng Nai gửi thư cho biết anh Nhung hy sinh ở khu vực giữa xã Hải Ba và Hải Thượng.

Đến mùa hè năm 2007, khi trở lại Tân Kỳ, tôi nghẹn ngào gặp được anh Phương (xã Đồng Văn) – người đồng đội đã tự tay tắm rửa, khâm liệm cho anh tôi. Giọng anh Phương run run kể lại: “Đêm đó quãng 2-3 giờ sáng, đơn vị đang băng qua trảng cát thì pháo bầy từ biển dội vào. Nhung trúng đạn hy sinh. Giữa đêm tối mịt mùng, đạn lạc bom rơi, bọn anh chỉ kịp chôn cất Nhung ngay bên đường hành quân rồi lại phải gạt nước mắt, ôm súng tiếp tục tiến vào mặt trận…”. Chi tiết về trảng cát định mệnh ấy cứ ám ảnh tôi trong mỗi giấc ngủ.

Sau khi đăng tin lên Báo Quân đội nhân dân, phép màu đã đến. Ngày 3 tháng 5 năm 2012, gia đình vỡ òa nhận thông báo: Mộ anh hiện an nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Vì khoảng cách địa lý và công việc ngành giáo dục xa xôi, tôi đánh liều gọi điện nhờ sự trợ giúp của những người chưa từng quen biết tại Quảng Trị. Thật cảm động, thầy Võ Văn Hoa (Phó phòng GD-ĐT huyện Hải Lăng), thầy Hoàng Ngọc Lịch (Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hải Vĩnh) và anh Hữu Thành (phóng viên báo Tiền Phong) đã đón nhận lời khẩn cầu của tôi bằng tất cả tấm lòng. Anh Thành cùng vợ đã tự tay mua hương hoa, vượt nắng gió vào nghĩa trang thắp nhang và chụp ảnh ngôi mộ gửi vào miền Nam cho tôi. Tiếng thầy Lịch ấm áp qua điện thoại: “Anh cứ yên tâm, bà con Hải Lăng coi các liệt sĩ như ruột thịt. Khi nào gia đình ra, chúng tôi đón”.

Ngày 25 tháng 6 năm 2012, bốn mươi năm kể từ ngày anh ngã xuống, gia đình tôi mới có thể đặt chân đến xã Hải Vĩnh. Đón chúng tôi là những nụ cười nghĩa tình của các anh cán bộ xã, là thầy Lịch, vợ chồng anh Thành và cả những người dân địa phương nghèo lam lũ. Họ lặng lẽ đi theo chúng tôi vào nghĩa trang, tự tay thắp từng nén hương lên các ngôi mộ xung quanh như một thói quen thân thuộc.

Giữa không gian lộng gió của nghĩa trang khang trang, tôi quỳ sụp xuống trước tấm bia đá khắc dòng chữ: Liệt sĩ Cao Xuân Nhung – Sinh năm 1953 – Hy sinh ngày 30-6-1972. Bốn mươi năm ngóng trông, bốn mươi năm lưu lạc, cuối cùng tôi đã tìm thấy anh.

Nước mắt tôi tràn ra, nhòe đi cả tấm bia đá lạnh. Tôi run rẩy lôi từ trong túi áo ngực ra một chiếc túi nhỏ chứa đầy đất mịn – nắm đất được tôi tự tay bốc từ góc sân nhà ở quê hương Tân Kỳ, Nghệ An trước chuyến đi. Tôi rải nắm đất quê hương lên nấm mộ anh, nghẹn ngào thầm thì:

"Anh Nhung ơi... Em đưa đất quê nhà ra với anh đây. Mẹ già ở quê không còn đủ sức để đi nửa chiều dài đất nước ra thăm anh nữa... Mẹ yếu lắm rồi anh ạ! Đêm nào mẹ cũng mê sảng gọi tên anh, mẹ cứ hỏi em sao đi lâu thế chưa đón anh về... Anh ơi, 19 tuổi anh gửi thân nơi trảng cát, nay em đến muộn, nhưng anh không cô đơn đâu, bà con Hải Lăng yêu thương anh nhiều lắm..."

Tiếng khóc của tôi vỡ vụn giữa nghĩa trang chiều lộng gió. Vợ chồng anh phóng viên Thành bặm môi quay đi lau nước mắt, thầy Lịch lặng lẽ đặt tay lên vai tôi sẻ chia, còn những người dân Hải Lăng đứng bên cạnh cũng sụt sùi, quệt ngang dòng lệ dài trên những gương mặt sạm đen vì nắng gió. Thầy Lịch nắm tay tôi, giọng nghẹn lại nhưng đầy cương nghị: “Các anh đã dâng hiến tuổi xuân cho mảnh đất này, thì từ lâu, các anh đã là người con ruột thịt của khúc ruột Hải Vĩnh chúng tôi. Gia đình cứ yên tâm gửi gắm”.

Bước ra khỏi nghĩa trang, ngoảnh đầu nhìn lại làn khói trầm nghi ngút bay lên giữa nền trời Quảng Trị anh hùng, lòng tôi chợt nhẹ nhàng đến lạ. Tôi đã hoàn thành lời hứa với mẹ, và từ nay, chúng tôi lại có một chốn thiêng liêng để đi về, một nơi mà tình đất, tình người và tình đồng đội đã hóa thành bất tử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện Liệt sĩ Cao Xuân Nhung Quê tại xã Nghĩa Đồng | Câu chuyện thời hoa lửa