Câu chuyện Liệt sỹ, Thiếu tá Nguyễn Tuấn (Quê tại xã Nam Cát, huyện Nam Đàn cũ)
Các bác đã đi qua chiến tranh bằng cả tuổi xuân của mình để chúng tôi được đi qua cuộc đời bằng những ngày bình yên. Có những lá thư chưa kịp gửi. Nhưng tình yêu nước trong những con người ấy đã được gửi lại cho Tổ quốc mãi mãi.
XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ
Mảnh đất Nam Cát, Nam Đàn có dòng sông Lam hiền hòa chảy qua, có những rặng tre xanh chở che cho những mái nhà tranh nghèo khó. Nơi ấy, có một người con đã ra đi từ lòng mẹ, mang theo cái chất kiên cường, mộc mạc của người xứ Nghệ để rồi hóa thành một huyền thoại trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa: Thiếu tá Nguyễn Tuấn – nguyên Bí thư Chi bộ, Chính ủy Binh trạm 35, Đoàn 559.
Anh Tuấn dáng người cao gầy, cặp kính cận hiền lành khiến anh trông giống một thầy giáo làng hơn là một vị chỉ huy quân sự. Ở Binh trạm 35 – nơi được mệnh danh là "tọa độ chết" trên con đường chi viện cho miền Nam – anh không chỉ là người lãnh đạo cao nhất mà còn là người anh, người cha của hàng trăm chiến sĩ, thanh niên xung phong. Giữa tiếng bom gầm rú xé toạc đại ngàn, người ta luôn thấy vị Chính ủy ấy lội bùn cùng chiến sĩ san lấp hố bom, hay ngồi bên bếp lửa chia nhau từng ngụm nước suối độc. Anh hay bảo với tụi lính trẻ: "Thương nhau thì giữ lấy đường, xe chưa qua là máu chúng ta chưa được ngừng chảy".
Mùa khô năm ấy, cuộc chiến vào giai đoạn khốc liệt nhất. Địch đánh phá ngày đêm, Binh trạm 35 bị cô lập giữa vòng vây của bom từ trường và bom tọa độ. Lương thực cạn, thuốc men hết, đồng đội thương vong ngày một nhiều. Đêm ba mươi Tết, giữa cái lạnh thấu xương của núi rừng Trường Sơn, anh Tuấn ngồi trong hang đá, cẩn thận viết bức thư gửi về cho người vợ trẻ và đứa con thơ nơi quê nhà Nam Đàn.
"Em và con cứ ăn Tết thật vui nhé. Hết chiến dịch này, khi hoa bưởi sau nhà mình nở trắng, anh sẽ về. Anh thèm cái vị bánh chưng xanh của quê mình, thèm được bế con ra bờ sông Lam lộng gió..."
Bức thư viết dở ấy, anh chưa kịp dán tem gửi đi.
Bốn giờ sáng mùng Một Tết, khi sương mù còn dày đặc, một trận bão bom bất ngờ ập xuống tọa độ của Binh trạm. Mặt đất rung chuyển, hang đá đổ sập. Anh Tuấn đang chỉ huy anh em di dời thương binh thì một quả bom dội trúng ngay cửa hầm. Khói bom đen kịt, khét lẹt bao trùm lên tất cả.
Khi tiếng nổ vừa dứt, chúng tôi điên cuồng lao vào bới đất đá. Hai bàn tay bật máu, móng tay gãy nát, vừa bới vừa khóc nghẹn: "Chính ủy ơi! Anh Tuấn ơi!...". Khi tìm thấy anh, tim chúng tôi như rụng rời. Anh nằm đó, tấm áo sờn vai rách bươm, máu nhuộm đỏ ngực áo. Một tay anh vẫn ghì chặt cuốn sổ nhật ký chi bộ và danh sách những chiến sĩ đã hy sinh, tay kia hướng về phía con đường xe chạy như một mệnh lệnh chưa kịp thốt ra bằng lời.
Anh ra đi khi tuổi đời còn quá xanh, khi lời hứa về ăn bánh chưng, về bế con bên bờ sông Lam vẫn còn bỏ ngỏ. Khói bom tan đi, chỉ còn lại những giọt nước mắt xé lòng của những người đồng đội thấm đẫm vào đất đá Trường Sơn đúng ngày đầu năm mới.
Hòa bình lập lại, đất nước trọn niềm vui, nhưng anh Tuấn đã mãi mãi nằm lại với đại ngàn. Bức thư viết dở ngày Tết năm ấy cuối cùng cũng về được tay người vợ ở quê nhà Nam Cát, nhưng người viết thì đã hóa thành mây trắng trên trời. Mỗi mùa xuân về, khi hoa bưởi nở trắng góc vườn, người ta lại thấy một người phụ nữ tóc bạc phơ ngồi bên hiên nhà, lặng lẽ khóc bên kỷ vật của người chồng liệt sĩ.
Mấy mươi năm đã trôi qua, con đường Trường Sơn xưa giờ đã xanh mướt cỏ cây, nhưng hình ảnh vị Chính ủy mộc mạc, quên mình vì mạch máu giao thông Tổ quốc vẫn sống mãi. Anh đã hiến dâng trọn vẹn thanh xuân và xương máu để cho những chuyến xe mang mùa xuân về với miền Nam, viết nên một khúc ca bất tử thời hoa lửa.



