CÂU CHUYỆN THỜI CHIẾN ĐẦY OANH LIỆT
Một buổi đêm hè tôi qua nhà ông Quế chơi, nghe ông kể chuyện về thời chiến ác liệt , tôi lại cảm thấy lịch sử như đang sống dậy, chân thực và đau thương đến nghẹt thở. Ông là một lính chiến miền Nam. Đối với ông, những năm tháng đối đầu trực diện với kẻ thù không phải là câu chuyện xa xôi trong sách vở, mà là một phần máu thịt đã gửi lại nơi đại ngàn.
Ông kể, sau khi Mỹ nhảy vào dựng lên chế độ Sài Gòn, chiến trường miền Nam lập tức biến thành một chảo lửa khổng lồ. Kẻ thù ồ ạt đổ quân vào như thác lũ. Không chỉ có lính Mỹ, mà còn có cả quân đánh thuê của các nước đồng minh như Hàn Quốc, Thái Lan, Úc... Lúc cao điểm, riêng số quân đánh thuê này đã lên đến gần 70 vạn người, phối hợp cùng hơn 1 triệu quân đội Sài Gòn điên cuồng mở các chiến dịch càn quét, đánh phá dồn dập nhằm lấn chiếm bằng được các vùng giải phóng của ta.
Để đập tan gọng kìm tàn khốc đó, năm 1972, Nhà nước ta phát động Chiến dịch Nguyễn Huệ — đợt tiến công chiến lược mở màn cho những thắng lợi vang dội, để rồi sau này đỉnh cao chính là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong những năm tháng sục sôi ấy, đơn vị lính chiến của ông bám trụ tại địa bàn hiểm trở và ác liệt nhất của vùng Đông Nam Bộ. Bước chân ông đã hằn in trên khắp các mảnh đất Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Đồng Nai, và ngược lên cả tỉnh Quảng Đức (mà ngày nay các cháu gọi là tỉnh Đắk Nông). Ông bảo:
"Bọn ông là lính chiến, cứ nơi nào bom cày đạn xới gay cấn nhất, ác liệt nhất là có mặt."
Tôi tò mò hỏi ông về những trận đánh cụ thể, ông lặng đi một hồi lâu, đôi mắt mờ đục nhìn ra khoảng sân vắng rồi cười buồn:
"Giờ ông già rồi, bảo kể tỉ mỉ từng trận thì khó lắm cháu ạ... Nhưng có một điều ông không bao giờ quên: Chiến tranh tàn khốc lắm."
Giọng ông trầm xuống, mang theo nỗi niềm của một người đã đi qua muôn vàn lằn ranh sinh tử. Ông bảo, súng đạn vốn không vị nể một ai. Trong cuộc chiến ấy, quân ta hy sinh nhiều và phía bên kia ngã xuống cũng không hề ít. Chẳng có chuyện bên này tổn thất ít, bên kia tổn thất nhiều, mà máu của biết bao người con đất Việt đã nhuộm đỏ từng tấc đất rừng. Chính vì sự tàn khốc đó mà ngày nay, tỷ lệ thương bệnh binh, liệt sĩ nhiều không kể xiết.
Đến tận bây giờ, trên cơ thể ông vẫn chằng chịt những vết sẹo . Khủng khiếp hơn, trong người ông vẫn còn viên đạn găm sâu vào da thịt, nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời. Những vết sẹo, viên đạn ấy chính là những chứng nhân lịch sử sống động nhất, nhắc nhở về một thời mưa bom bão đạn mà ông đã kiên cường đi qua.
Nhắc đến sự hy sinh, ông quay sang nhìn tôi, ánh mắt đầy nghiêm nghị và nói:
"Ngay như xã Thái Sơn cũ mình đây, tính từ thời chống Pháp đến chống Mỹ, đã có đến 120 gia đình chịu cảnh mất con, mất chồng. Và ngay trong chính ông cha cháu, đã có bốn người ngã xuống, hy sinh trong kháng chiến rồi. Nhìn vào mất mát của ông cha mình, cháu sẽ tự hiểu chiến tranh nó tàn khốc đến nhường nào..."
Ông dừng lại một chút, giọng nghẹn ngào nhưng rành rọt từng chữ:
"Chiến tranh khốc liệt lắm. Đến thời các cháu được sống trong hòa bình, hãy luôn nhớ về cội nguồn và sự hy sinh của cha anh ngày trước."
Câu nói của ông như một luồng điện chạy dọc sống lưng, khiến tôi lặng người, lồng ngực thắt lại. Trước đây, tôi đọc về chiến tranh qua những trang sách lịch sử với những con số thống kê khô khan. Tôi đứng ngoài nỗi đau ấy như một người xem. Nhưng khoảnh khắc ông nhắc đến bốn người anh em họ của gia đình tôi đã ngã xuống, tôi vô cùng đau xót, lồng ngực thắt lại. Hóa ra, hai chữ "Hòa bình" mà thế hệ chúng tôi đang tận hưởng ngày hôm nay không nằm đâu xa xôi,nó được đánh đổi bằng chính những khoảng trống không thể lấp đầy trên bàn thờ dòng họ, bằng giọt nước mắt của cha ông, bằng cả viên đạn còn găm trong cơ thể ông Quế.
Chiến tranh đã lùi xa, những cánh rừng miền Đông năm xưa giờ đã xanh lại màu cây lá. Nhưng những vết sẹo của ông, cùng lời dặn dò thiêng liêng ấy sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho thế hệ cháu con: Sống sao cho xứng đáng với cội nguồn, với máu xương của những người đi trước.



