Bài viết

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA (1)

Có những thời đại mà lịch sử không chỉ được viết bằng những mốc son, mà còn được khắc sâu bằng máu, nước mắt và sự hy sinh thầm lặng của hàng triệu con người vô danh. Thời hoa lửa của dân tộc Việt Nam chính là như thế. Làng Hạ Nghi nằm bên bờ con sông Đáy, nơi phù sa bồi đắp từng thửa ruộng nhưng cũng là nơi hứng chịu nhiều nhất những cơn đói nghèo và roi vọt của thời mất nước. Những năm ba mươi của thế kỷ trước, đất làng khô cằn không chỉ vì nắng hạn, mà vì người dân đã kiệt sức sau bao mùa sư

Đà Nẵng27/12/2025CHI ĐOÀN TRƯỜNG MẦM NON HÒA TIẾN 2 (XÃ HÒA TIẾN)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người viết bài: Nguyễn Thị Thu Phương- Nguyễn Thị Ngọc Huệ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Có những thời đại mà lịch sử không chỉ được viết bằng những mốc son, mà còn được khắc sâu bằng máu, nước mắt và sự hy sinh thầm lặng của hàng triệu con người vô danh. Thời hoa lửa của dân tộc Việt Nam chính là như thế.

Làng Hạ Nghi nằm bên bờ con sông Đáy, nơi phù sa bồi đắp từng thửa ruộng nhưng cũng là nơi hứng chịu nhiều nhất những cơn đói nghèo và roi vọt của thời mất nước. Những năm ba mươi của thế kỷ trước, đất làng khô cằn không chỉ vì nắng hạn, mà vì người dân đã kiệt sức sau bao mùa sưu thuế, bắt phu, bắt lính.

Ông Phúc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy. Cả đời ông gắn với ruộng cày, con trâu, cái cày gỗ đã mòn vẹt theo năm tháng. Ông ít nói, dáng người thấp đậm, lưng sớm còng vì lao lực. Nhưng trong ánh mắt ông luôn có một thứ ánh sáng lạ lùng – ánh sáng của người hiểu rất rõ giá trị của từng hạt thóc, từng giọt mồ hôi.

Ông từng chứng kiến cha mình chết vì kiệt sức sau những ngày đi phu đắp đồn cho giặc. Ông cũng chứng kiến những đứa trẻ trong làng lớn lên chưa kịp hiểu thế nào là tuổi thơ đã phải hiểu thế nào là đói. Chính những điều ấy khiến ông Phúc tin rằng: nếu dân còn đói, thì nước chưa thể yên.

Khi những người hoạt động cách mạng bí mật về Hạ Nghi, ông Phúc không phải người đầu tiên đứng ra họp bàn, nhưng là người đầu tiên nhận việc. Ông nói rất ngắn gọn:
“Các anh lo việc lớn. Tôi lo cho dân có cái ăn.”

đó, lao động của ông không còn là lao động mưu sinh, mà trở thành lao động kháng chiến.

Ông tổ chức lại ruộng đất trong làng, chia nhau làm theo nhóm nhỏ để tránh tai mắt địch. Ông hướng dẫn dân trồng xen khoai sắn, trồng thêm ngô trên những bãi đất hoang ven sông. Ban ngày cày cấy như thường, ban đêm ông cùng vài trai làng thân tín đào hầm giấu thóc dưới gốc tre, trong chuồng trâu, dưới nền bếp. Mỗi hầm thóc được ông đánh dấu bằng những ký hiệu chỉ người trong làng mới hiểu.

Có những đêm mưa tầm tã, ông Phúc lội ruộng đến tận đầu gối, tay giữ nước cho lúa khỏi chết khô. Bùn ngấm vào từng vết nứt trên bàn chân, đau đến buốt óc, nhưng ông không dừng lại. Ông hiểu, nếu lúa chết, thì cả làng sẽ chết.

Bà Lý – người phụ nữ sống cuối làng – là người hiểu ông Phúc hơn ai hết. Hai con bà đã tham gia hoạt động cách mạng, một người hy sinh trong ngục, một người tiếp tục đi trong đêm tối làm liên lạc. Chính bà là người cùng ông Phúc giữ bếp lửa làng Hạ Nghi. Ban ngày bà giã gạo, ban đêm nấu cơm tiếp tế. Những bữa cơm độn khoai, độn sắn ấy đã nuôi sống biết bao cán bộ, chiến sĩ trong những ngày bị vây ép.

Chiến tích của ông Phúc không đến từ một trận đánh, mà từ hàng trăm đêm không ngủ. Có lần, trong một đợt càn lớn, địch lùng sục từng nhà. Ông Phúc đứng ra nhận phần “nghi vấn”, để dân làng kịp chuyển thóc sang hầm khác. Ông bị đánh, bị trói ngoài sân đình, nhưng vẫn cắn răng chịu đựng. Khi địch rút đi, cả làng vẫn còn nguyên lương thực. Phong trào được cứu.

Năm 1945, nạn đói tràn về như một bản án tử hình treo lơ lửng trên đầu dân làng. Người chết đói nằm ven đường, tiếng khóc trẻ con lẫn trong tiếng gió rít qua những mái nhà trống rỗng. Đó là thời khắc sinh tử của Hạ Nghi.

Phúc là người đứng ra quyết định phá kho thóc của Nhật – Pháp. Không có tiếng hô hào, không có cờ xí. Chỉ có những con người gầy guộc, đôi mắt cháy lên vì đói và vì căm thù. Đêm ấy, thóc đổ trắng sân kho. Hàng trăm mạng người được cứu sống. Và cũng từ đêm ấy, niềm tin của dân làng vào cách mạng trở nên vững chắc hơn bao giờ hết.

Trong những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, ông Phúc lại là người lo từng gánh gạo, từng bữa ăn cho đội tự vệ và đoàn người kéo lên huyện lỵ giành chính quyền. Khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đình làng, ông đứng lặng ở phía sau, bàn tay chai sần nắm chặt vành nón cũ, mắt đỏ hoe.

Sau ngày độc lập, ông Phúc tiếp tục lao động, tiếp tục nuôi quân trong những năm kháng chiến trường kỳ sau đó. Ruộng đồng vẫn là mặt trận của ông. Thóc gạo vẫn là vũ khí của ông. Những chiến tích của ông kéo dài suốt nhiều năm, không ồn ào nhưng bền bỉ như chính con người ông.

Về già, lưng ông còng xuống hẳn, nhưng mỗi chiều ông vẫn ra đứng bên bờ ruộng nhìn lúa trổ bông. Có người hỏi ông có tự hào không. Ông chỉ cười, nụ cười hiền lành của người nông dân cả đời gắn với đất: “Đất còn nuôi được người, là tôi còn phải làm.”

Và như thế, giữa thời hoa lửa của dân tộc, ông Phúc đã đi hết một cuộc đời lao động như một cuộc kháng chiến. Không huy chương trên ngực, không tên trên bia đá lớn, nhưng chiến tích của ông được ghi lại trong từng bữa cơm no, từng làng quê sống sót, từng ngày độc lập mà dân tộc này có được.

Câu chuyện thời hoa lửa vì thế không chỉ là câu chuyện của những người cầm súng, mà là thiên tiểu thuyết về những con người bình dị đã làm nên lịch sử bằng chính đôi tay lao động của mình.

Sau những mùa cày cấy nối tiếp nhau, làng Hạ Nghi không chỉ là một làng quê nghèo, mà đã trở thành một vùng đất cách mạng âm thầm. Ở đó, mỗi con đường mòn, mỗi hàng tre, mỗi bếp lửa đều có ký ức riêng, đều in dấu chân của những người đi trong bóng tối.

Người mà dân làng gọi bằng cái tên kính cẩn là ông Ba Định vốn chỉ là một thầy đồ nghèo, dạy chữ Nho cho trẻ con trong làng. Ít ai biết rằng phía sau dáng vẻ chậm rãi, ít nói ấy là một người hoạt động cách mạng lâu năm, từng đi qua nhiều nhà tù, từng nếm đủ đòn roi. Sau khi được tổ chức bố trí về gây dựng cơ sở ở Hạ Nghi, ông Ba Định sống như một người dân bình thường, ban ngày dạy học, ban đêm liên lạc với các vùng xung quanh.

Ông là người kết nối những mảnh đời rời rạc thành một mạng lưới bền chặt. Ông tìm đến ông Phúc không phải vì sức vóc, mà vì sự bền bỉ. Ông tìm đến bà Lý không phải vì bà gan góc, mà vì bà biết giữ bí mật. Trong căn bếp ám khói của bà Lý, ông Ba Định thường ngồi rất lâu, nghe tiếng củi cháy lách tách, rồi mới nói những câu ngắn gọn nhưng quyết đoán: “Cách mạng không thể sống nếu dân đói. Dân đói thì phong trào chết trước giặc.”

Từ đó, giữa ông Ba Định và ông Phúc hình thành một sự gắn bó đặc biệt. Một người lo tổ chức, một người lo cái ăn. Một người giữ đường dây, một người giữ ruộng đồng. Không ai nói mình là anh hùng, nhưng cả hai đều hiểu, chỉ cần một mắt xích đứt, cả phong trào sẽ sụp đổ.

Trong số những người hoạt động cách mạng, Hòa, con trai bà Lý, là người trẻ tuổi nhất. Hòa làm liên lạc, đi như con thoi giữa các làng. Có những đêm Hòa chạy xuyên rừng, lội sông, tài liệu giấu trong ống tre buộc chặt bên hông. Có lần bị địch truy đuổi, Hòa lao xuống sông, ngậm ống tre trong miệng, trôi theo dòng nước lạnh buốt cho đến khi thoát. Khi trở về, Hòa chỉ lặng lẽ ngồi bên bếp lửa sưởi ấm, không kể một lời về hiểm nguy mình vừa trải qua.

Người có công giúp đỡ cách mạng ở Hạ Nghi không chỉ là bà Lý. Đó còn là bà Năm Dậu, người chuyên giả vờ đi chợ xa nhưng thực chất mang tin tức và thuốc men cho cán bộ. Là ông Cả Hinh, người canh gác đầu làng, mỗi khi thấy bóng lính từ xa liền gõ nhịp vào thân tre làm ám hiệu. Là những đứa trẻ chăn trâu tưởng như vô tư, nhưng lại thuộc nằm lòng từng lối mòn, từng bờ rào để dẫn đường cho người đi trong đêm.

Có những người chưa từng gặp cán bộ, chưa từng biết mặt tổ chức, nhưng vẫn sẵn sàng cho mượn mái nhà, nhường bát cơm, che giấu người lạ. Họ không cần được giải thích nhiều. Chỉ cần biết đó là người “vì nước”, thế là đủ.

Khi phong trào bị khủng bố dữ dội, ông Ba Định bị bắt trong một đợt càn lớn. Trước khi đi, ông chỉ kịp nhắn lại một câu qua Hòa: “Có thể mất người, nhưng không được mất dân.”

Ông Ba Định chịu đủ mọi đòn tra tấn, nhưng không khai một lời. Sau này, khi ông hy sinh trong ngục, dân làng Hạ Nghi không lập mộ lớn, chỉ chôn ông dưới gốc tre già, nơi từng là điểm hẹn của bao cuộc họp bí mật. Với họ, ông vẫn còn đó, trong từng bước đi của phong trào.

Chính trong những tháng ngày mất mát ấy, vai trò của những người có công giúp đỡ cách mạng càng hiện rõ. Ông Phúc gánh thêm phần việc, giữ vững lương thực. Bà Lý trở thành chỗ dựa tinh thần cho cả mạng lưới. Hòa tiếp tục con đường của ông Ba Định, dù biết phía trước là hiểm nguy và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào.

Cách mạng Tháng Tám thành công, những con người ấy mới bước ra ánh sáng. Nhưng khi được gọi tên, họ đều lặng im. Bởi điều họ làm chưa bao giờ là để được ghi công, mà là để đất nước này được sống.

Và trong dòng chảy dài của lịch sử, người hoạt động cách mạng và người có công giúp đỡ cách mạng đã hòa vào nhau, không còn ranh giới. Người tổ chức không thể tồn tại nếu không có dân che chở. Người dân không thể đứng lên nếu không có ánh sáng dẫn đường. Chính sự gắn bó ấy đã tạo nên sức mạnh trường kỳ, đưa dân tộc đi qua thời hoa lửa đến ngày độc lập.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA (1) | Câu chuyện thời hoa lửa