Bài viết

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA (1)

Hưng Yên01/01/2026Nguyễn Thế Song - 11a93 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người ta nói, lịch sử là những trang giấy cũ kỹ và khô khan. Nhưng tôi tin rằng, lịch sử là hơi thở của những người đã sống, là tiếng gươm khua vang vọng từ ngàn xưa và là giọt mồ hôi rơi trên đồng ruộng đã thấm đẫm máu xương của cha ông. Hôm nay, chúng ta sẽ tạm gác lại những ồn ào của thế kỉ 21, để cùng ông Tấn quay lại thời điểm năm 1970-1974 cái năm mà vận mệnh dân tộc được đặt lên bàn cân, cái năm mà nước ta đã chịu nhiều đau thương chiến tranh mang lại. Câu chuyện ông Tấn sắp kể không nằm trong những cuốn sách giáo khoa, mà nằm trong trái tim của những nhân chứng cuối cùng, kể về năm tháng đau thương-một góc khuất đã làm nên huyền thoại.

Trước hết, nhân chứng sống của câu chuyện này là ông Lê Văn Tấn, sinh năm 1950, quê quán và nơi ở hiện tại của ông thuộc thôn Thống Nhất, xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (địa chỉ cũ), nay đã thuộc xã Hoàn Long, tỉnh Hưng Yến. Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giản dị, nghĩa tình này, nhưng vào năm 1970 khi ấy ông là một trành trai trẻ 20 tuổi nhiệt huyết, tươi trẻ, khi nghe tin đất nước đang gặp nguy hiểm, với tinh thần yêu nước nồng nàn, ông và các anh em trong thôn, xã đã tình nguyện tham gia vào quân đội, với lòng căm thù giặc sâu sắc ông đã quyết tâm cầm súng đánh đuổi địch ra khỏi bờ cõi nước ta. Nhưng một chàng trai trẻ mới 20 tuổi xuân, chưa từng được huấn luyệ bài bản thì làm sao có thể ra chiến trường. Tháng 8 năm 1970, ông đã được đưa đến một đơn vị ở Hải Phòng, sau 8 tháng rèn luyện ông đã học được những kĩ năng chiến đấu cơ bản và cách sử dụng súng, lựu đạn một cách thuần thục, nhuần nhuyễn ông Tấn kể rằng: “ Lúc tôi mới vào đơn vị thì thấy vui lắm, hào hứng lắm nhưng khi bắt đầu vào rèn luyện thì mới bắt đầu thấy được sự nghiêm trọng của chiến tranh”. Tuy bắt đầu thấy được sự khó khăn nhưn trong ông vẫn có những quyết tâm mãnh liệt không hề nao núng. Hằng đêm, ông đều nghe ngóng tin tức bên tình báo để nắm được tình hình bên ngoài chiến tuyến, mỗi một thông tin tới làm cho ông càng thêm bồi hồi. Và rồi ngày xuất quân cũng đến, ông và tiểu đoàn bắt đầu hành quân vào miền Nam trên tuyến đường Trường Sơn đầy gian nan, trắc trở, đôi giày cao su được phát mới ngày nào còn mới tinh, giờ đã mòn rách nát. Trên con đường Trường Sơn lẫy lừng, ông đã quen được rất nhiều đồng đội từ các tiểu đoàn khác cũng tập hợp để chuyển quân vào giải phóng miền Nam. Trên con đường ấy, luôn ngập tràn nụ cười tươi sáng của những tràng trai trẻ đang hi sinh vì đất nước, những câu hát, những tiếng cười đùa rạng rỡ của các anh đã khắc ghi mãi trong quãng đời đi lính của ông Tấn để đến mai này khi ông đã 75 tuổi mà vẫn không thể quên được những tình cảm đồng chí cao đẹp ấy.

Trong bài thơ Giá từng thước đất của nhà thơ Chính Hưu có câu thơ:

“ Đồng đội ta là hớp nước uống chung, là nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa”

Câu thơ ấy đã nói lên tình cảm đồng chí keo sơn, gắn bó sâu sắc của những người lính.

Năm 1971, sau quãng thời gian hành quân dài đằng đẵng, nơi ông Tấn đặt chân đến là một mặt trận ở Kom Tum ở khu vực Bắc Tây Nguyên. Đến nơi, trước mắt ông là những lũy hào sâu, xung quanh là khói bom mù mịt, cành cây cháy rụi, những thùng phi nằm lăn lóc trên mặt đất, một cảnh tượng hoang tàn, khốc liệt, trong lòng ông đã bắt đầu có những nỗi lo sợ. Nhưng trong buổi tối đầu tiên ở mặt trận ông chưa phải chiến đấu, trung đội trưởng dạy ông và đồng đội cách phối hợp với nhau trong thực chiến. Sau đó cũng đến giờ ăn tối ông Tấn kể rằng: “ Trong chiến trường nó kham khổ lắm, khẩu phần ăn thường chỉ là nắm cơm vắt cứng đanh, được bảo quản trong mo cau, độn với sắn khô hay ngô rang nghiền. Món ăn “ thịnh soạn” nhất là bữa có một miếng thịt khô bé bằng đầu ngón tay, được chia đều đến từng người. Nhưng quan trọng hơn là nước uống, cái quý giá nhất trên chiến trường là một ngụm nước mát lạnh khi khát khô cổ họng, một viên muối chống mất nước khi mồ hôi ướt đẫm lưng”. Ông còn kể rằng, khi tiếp tế không kịp, anh em phải dựa vào rừng. Từ củ mài chát xít, lá bép đắng ngắt, đến những ocn ốc đá bắt được dưới khe suối, tất cả đều trở hành nguồn sống. Sự khó khăn nãy đã rèn nên một nguyên tắc bất thành văn; không ai ăn một mình. Một chiếc nấm rừng bé tí tẹo cũng phải được bẻ ra thành nhiều phần, người khỏe nhường cho người yếu, người đi trước để dành miếng ngon cho người đi sau. Đó là bữa ăn của tình đồng chí, nơi sự sống của cá nhân được đặt dưới sự sống còn của tập thể.

Nhưng rồi thời phút khốc liệt nhất cũng đến. Kẻ thù của chúng ta là những tên lính Mỹ và lính Ngụy, chúng được trang bị rất nhiều vũ phí hiện đại tối tân. Một tiếng pháo vang trời rung lên, một loạt đạn AK mở màn khô khốc, xé toang sự im lặng vốn đã căng như dây đàn. Ngay lập tức, trận địa bùng lên như một núi lửa. Tiếng súng trường M-16 của địch rít lên, sắc lẻm và lạnh lùng, kèm theo tiếng dại liên MG42 gầm gừ, nhả đạn như trút nước, cày nát từng ụ đất, khói vụi và đất bắn tung lên cuồn cuộn, che khuất tầm nhìn. Trận chiến không còn là sự đối đầu đơn lẻ, mà là một cơn lũ thép qua mặt đất. Trong cái hỗn loạn điên cuồng của tiếng súng và tiếng nổ, có một âm thanh cất lên, không phải là vũ khí, những lại mạnh hơn mọi loại đạn dược: tiếng kèn đồng xung trận. Tiếng kèn vang lên đột ngột, nó không chỉ là hiệu lệnh, mà là linh hồn của cuộc chiến, là lời thề của người lính. Ngay lập tức, tiếng kèn được đáp lại bằng tiếng hô xung phong vang dội như từ hàng trăm lồng ngực: “Tiến lên! Vì Tổ Quốc!”. Ông Tấn là một người lính trẻ cũng hô vang và cầm súng lao lên mặt trận với lòng quả cảm tiêu diệt kẻ địch, với lòng căm thù sâu sắc ông quyết tử xông pha cùng đồng đội ghi được những chiến công lẫy lừng. Nhờ sự quyết tâm mãnh liệt, cùng với sự yêu nước, căm thù địch, trung đoàn của ông Tấn đã thành công đẩy lùi đợt tấn công đầu tiên của quân địch. Ông Tấn đã may mắn sống sót sau đợt tấn công, nhưng đồng đội của ông không may mắn như thế, có người thì hi sinh, người thì bị bắn trúng tay, trúng chân. Nhìn thấy những cảnh ấy ông Tấn không kìm được cảm xúc mà khóc òa. Ông Tấn chia sẻ rằng: “lúc chưa chiến đấu thì thây lo sợ vô cùng, nhưng khi địch đến, tiếng súng vang lên thì ông không còn cảm thấy sợ nữa, cứ quả cảm xông pha, chết thì thôi”, có lẽ trái tim kiên định của ông đã chiến thắng nỗi sợ hãi đã giúp ông kiên cường và sống sót trên chiến trường. Và cứ thế các cuộc tấn công lần 2, lần 3 rồi lần 4 dồn dập đến, ông Tấn trong cuộc tổng tấn công lần thứ 4 ông đã không may mắn bị mảnh đạn găm vào phổi khiến ông phải chuyển về hậu phương để chữa trị, khi nằm trên giường bệnh ông vẫn không ngừng tìm hiểu tin tức về chiến tuyến, khi có thời gian dưỡng thương ông mới nghĩ đến những nỗi sợ hãi khi ở chiến trường. Khi trận chiến bùng nổ, nỗi sợ hãi không còn là một ý nghĩ mơ hồ, nó biến thành một cảm giác vật lý mạnh mẽ, xuyên thấu cơ thể.

Và rồi khi nằm trên giường bệnh ông đã nghe được tin kháng chiến thành công, ông vui mừng khôn xiết, ông ở lại bẹnh xá đến năm 1975 được trở về quê hương. Về đến quê ông được dân làng chào đón niềm nở vì đã anh dũng trên chiến trường, giành độc lập cho Tổ Quốc, sau đó ông đã kết hôn với bà Lê Thị Huấn, sau đó ông bắt đầu lập gia đình sự nghiệp bắt đầu một cuộc sống yên bình. Từ ngày hôm nay, ông không còn chịu cảnh khổ sở nơi chiến trường, nơi chào đón ông là ngôi nhà, là gia đình ấm áp.

Quay về hiện tại, ông Tấn đã 75 tuổi nhưng khi nhắc đến những ngày tháng ấy, thì trong lòng ông lại dâng lên những cảm xúc vô cùng khó tả. Đến giờ ông vẫn còn sống trong một căn nhà cũ kỹ giản dị, bởi ông đã quen sống như vậy rồi, có lẽ đó cũng là sự giản dị mộc mạc của một cựu chiến binh.

Nhà ở hiện tại của ông Lê Văn Tấn

Khi chúng ta kết thúc những dòng suy tưởng này, một lẫn nữa xin được khắc ghi và tôn vinh sự hi sinh vô bờ bến của các anh hùng. Sự cống hiến quên mình của các anh hùng đã vượt lên trên tất cả trách nhiệm, trở thành biểu tượng cao quý nhất của lòng yêu nước và tinh thần quả cảm. Máu và xương các anh đã đổ xuống không chỉ để bảo vệ từng tấc đất, mà còn để kiến tạo nên một di sản vô giá: hòa bình và độc lập mà chúng ta đang thụ hưởng hôm nay. Đây là món nợ ân tình lớn lao mà mỗi công dân Việt Nam đều mang trong tim. Nguyện cầu rằng, sự hy sinh của các anh sẽ mãi là ngọn lửa thiêng liêng, thắp sáng ý chí và trách nhiệm của thế hệ hiện tại và tương lai trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Xin thành kính tri ân và mãi mãi ghi nhớ công ơn các anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn