Câu Chuyện Thời Hoa Lửa (17)
Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1931, ở huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), người dân tộc Tày. Với khát khao được cầm súng giết giặc giải phóng đất nước, dù mới 16 tuổi, La Văn Cầu đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Lúc đó là năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui, ý chí đã giúp cho chàng trai trẻ La Văn Cầu vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, được đồng đội rất quý mến.
Bồi hồi xúc động, Đại tá La Văn Cầu đã kể về trận đánh đồn Đông Khê 2,
năm 1950, đầy khốc liệt và bi tráng. Những đồng đội của ông đã hy sinh,
ông là người cuối cùng may mắn sống sót, với một cánh tay lành lặn. Ông
nói: "Mình phải hoàn thành nhiệm vụ thay cho các đồng đội đã ngã xuống".
Ông nhớ lại: "Tổ có 5 người do tôi làm Tổ trưởng. Lần đầu tiên chúng tôi
đánh bộc phá - đơn vị bộc phá đầu tiên. Bộc phá có ít nên tôi có sáng kiến
lấy mìn của địch để phá hàng rào. Lúc đó, địch bắn xuống như mưa,
nhưng ai cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nên dù có bị thương cũng
không dám nói ra vì sợ mọi người nhụt chí.
Đến khi không còn trụ nổi nữa họ mới nói: "Chúng tôi bị thương nặng
không làm được nhiệm vụ nữa. Các anh cố gắng làm xong nhiệm vụ và trả
thù cho chúng tôi." Khi cách lô cốt địch khoảng 15 thước, hai người nữa lại
bị địch bắn trúng và hy sinh. Ôm hôn vĩnh biệt các anh, lại thấy căm thù
giặc hơn, tôi quyết phải trả thù cho các anh và làm cho xong nhiệm vụ."
Ông bồi hồi kể: "Đạn bắn trúng cánh tay phải và má phải của tôi. Lúc đó,
tưởng chết, nên tôi cố hô Hồ Chủ tịch muôn năm, Việt Nam độc lập muôn
năm. Khi tỉnh lại, một bên mình đã tê đi, cánh tay phải lủng lẳng, má phải
mất. Lại nghĩ đến nhiệm vụ, tôi vùng dậy tìm gói bộc phá, nhưng lúc này
rất khó đi. Tôi quay xuống tìm người nhờ chặt cánh tay để tiếp tục làm
nhiệm vụ. Quả bộc phá nặng 12 kg nhưng tay trái tôi vẫn đủ sức để xách.
Qua giao thông hào thứ ba, tôi lại nhảy hụt lần nữa, vì sức đã yếu. Trong
khi đó, tiếng súng liên thanh của địch cứ nổ ran, những lỗ châu mai của
địch nhả đạn liên hồi - ở dưới giao thông hào tôi đã quá mệt. Nhớ đến lời
Ban Chỉ huy dặn phải phá cho bằng được lô cốt này, vì Đông Khê là vị trí
rất quan trọng, bảo vệ đường số 4. Lô cốt này bắn xuống đường Thất Khê
và yểm hộ bốt Cam Vây. Nếu không phá được lô cốt này quân ta khó tiến.
Nghĩ thế, tôi lại thấy hăng, lại xách bộc phá nhảy lên".
"Tôi tiến đến gần chân lô cốt, men lại lỗ châu mai, chờ cho địch thay băng
đạn. Khi súng địch tạm im không bắn, tôi xông lại, đút quả bộc phá vào lỗ
châu mai. Địch ở trong lấy báng súng đẩy ra hai lần. Lần đầu, do tay yếu
không đẩy vào sâu được nên địch lại đẩy ra. Thấy thế tôi nảy ra sáng kiến
lấy chân đẩy quả bộc phá vào. Lần này, nhờ có sức mạnh của chân, quả
bộc phá được đẩy vào sâu, bịt chặt lấy lỗ châu mai, địch không đẩy ra
được nữa.
Chạy ra xa lô cốt độ mươi mười lăm thước, tôi giật nụ xòe. Quả bộc lôi nổ
rất to. Tôi bị sức ép của quả bộc phá làm ngất đi mấy phút. Lúc tỉnh lại, lô
cốt đã tan tành, chỉ còn một đống gạch trắng xóa, bóng các anh xung kích
từng loạt, từng loạt lướt qua mắt tôi nhảy vào vị trí Đông Khê. Tôi thấy
sung sướng quá vì đã trả thù được cho bốn bạn trong tổ của mình".
Tấm gương chiến đấu của Anh hùng La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi
đua giết giặc lập công trong toàn quân, trở thành lá cờ đầu trong phong
trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn - một hình thức chiến thuật mới của
quân đội ta từ Chiến dịch Biên giới năm 1950.
Kể lại những kỷ niệm xưa về các trận đánh lịch sử, Anh hùng La Văn Cầu
không khỏi xúc động nghẹn ngào khi nhớ về những đồng đội đã hy sinh
trong trận đánh đồn Đông Khê, mở màn cho Chiến dịch Biên giới. Ông nói,
chừng nào trái tim còn đập, ông vẫn còn muốn được cống hiến. Đây là
điều ông luôn tâm niệm trong suốt cuộc đời. Mặc dù chiến tranh đã qua đi,
song Anh hùng La Văn Cầu vẫn mong được góp một phần nhỏ bé vào
công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước ngày càng giàu đẹp, hùng cường.



