Anh hùng Lực lượng vũ trang

CÂU CHUYỆN “ THỜI HOA LỬA”

Người ta thường nói, lịch sử không phải là những con số vô hồn trên lịch trình thời gian, mà là những lựa chọn mang tính định mệnh của những con người dám đứng trên gió bão. Trong triết học về nhân sinh, giá trị của một cá nhân không đo bằng độ dài của năm tháng họ sống, mà bằng độ sâu của những dấu chân họ để lại trên hành trình dân tộc. Giữa dải đất An Giang hiền hòa, nơi dòng sông Hậu bồi đắp phù sa cho những mùa vàng, đã có một người con từ phù sa ấy trở thành một biểu tượng thép. Đó chính l

An Giang14/04/2026Đoàn xã phú Tân (Đoàn xã phú Tân)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN “ THỜI HOA LỬA”

Người ta thường nói, lịch sử không phải là những con số vô hồn trên lịch trình thời gian, mà là những lựa chọn mang tính định mệnh của những con người dám đứng trên gió bão. Trong triết học về nhân sinh, giá trị của một cá nhân không đo bằng độ dài của năm tháng họ sống, mà bằng độ sâu của những dấu chân họ để lại trên hành trình dân tộc. Giữa dải đất An Giang hiền hòa, nơi dòng sông Hậu bồi đắp phù sa cho những mùa vàng, đã có một người con từ phù sa ấy trở thành một biểu tượng thép. Đó chính là Chủ tịch Tôn Đức Thắng người đã chứng minh rằng: ‘Chân lý không nằm ở những điều cao siêu, mà nằm ở lòng yêu nước nồng nàn và sự kiên định đến tận cùng của một tâm hồn thuần khiết’.

Bác Tôn- Tôn Đức Thắng (1888 - 1980) quê ở An Giang. Sinh ra tại xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên. Cuộc đời Bác là một hành trình kỳ diệu, khởi đầu từ vùng quê nghèo, đi qua những xưởng máy khói bụi đến những đại dương mênh mông, để rồi trở về gắn bó với sự nghiệp giải phóng đất nước.Từ một người thợ máy ở xưởng Ba Son đến người chiến sĩ bị đày ải 15 năm tại "địa ngục" Côn Đảo.

Năm 1919, Giữa cuộc nổi dậy của hải quân Pháp trên Biển Đen, Bác Tôn chính là người Việt Nam duy nhất nhận nhiệm vụ kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm của Pháp nhằm ủng hộ nước Nga Xô Viết nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Hành động này không chỉ là sự dũng cảm của một cá nhân, mà là tuyên ngôn về lòng quốc tế cao cả. Sau sự kiện ấy, Bác bị trục xuất khỏi Pháp, trở về Sài Gòn và cùng những người bạn chiến đấu thành lập Công hội bí mật Sài Gòn đây chính là tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ khi thành lập công hội đã liên tục lãnh đạo các phong trào đấu tranh của công nhân ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Điển hình là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son. Ở Bác, ta thấy cái "gan" của người miền Tây hòa quyện cùng lý tưởng cách mạng sắc bén.

Bước ngoặt nghiệt ngã xảy ra vào năm 1929 khi thực dân Pháp bắt giam và đày Bác ra nhà tù Côn Đảo. Suốt 15 năm sống trong "địa ngục trần gian", Bác không hề khuất phục. Bác đã đề xướng thành lập "Hội cứu tế tù nhân" Hội tù Côn Đảo đầu tiên, góp phần quan trọng vào việc thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại đây. Hình ảnh Bác tự tay sửa chữa xe lôi, sửa đồ dùng cho bạn tù không chỉ thể hiện tay nghề thợ máy tài hoa mà còn là minh chứng cho một tấm lòng nhân hậu, luôn sống vì đồng đội giữa chốn lao tù tối tăm.

Hòa bình lập lại, cuộc đời Bác tiếp tục gắn liền với những dấu mốc "đầu tiên" đầy vinh quang. Năm 1955, Bác vinh dự là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lênin. Đến năm 70 tuổi, Bác lại là người đầu tiên được tặng Huân chương Sao Vàng cao quý. Đặc biệt nhất, vào năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, Quốc hội đã đồng thuận bầu Bác làm Chủ tịch nước đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Xem lại những thước phim về Bác, tôi nhận ra một điều: dù ở vị trí nào, Bác vẫn giữ cái chất của một "anh Hai Thắng" ngày nào. Bác mặc bộ đồ kaki cũ, đi đôi dép cao su, vẫn ăn những món ăn bình dị của quê nhà. Sự vĩ đại của Bác nằm ở chỗ Bác chưa bao giờ xem mình là một "vị thần", mà luôn là một người thợ trung thành của nhân dân. Đó là câu chuyện thực tế nhất về đạo đức cách mạng mà thế hệ chúng ta cần phải học tập.

Nhà văn Nguyễn Khải từng tâm niệm: "Giá trị của một con người không nằm ở vị trí họ đứng, mà ở những gì họ đã cống hiến". Nhìn lại cuộc đời Bác Tôn, ta thấy hiện lên một triết lý sống sâu sắc: sự vĩ đại bắt nguồn từ những điều thực tế nhất. Bác đã dùng đôi bàn tay thợ máy để "sửa chữa" những vết thương của thời đại, dùng trái tim để gắn kết tình đoàn kết dân tộc.

Hôm nay, khi thế hệ trẻ chúng ta viết tiếp những trang sử mới, hình ảnh Bác Tôn luôn là ngọn hải đăng chỉ lối. Chúng ta không cần phải làm điều gì quá xa vời, chỉ cần sống trách nhiệm, chân thành và không ngừng nỗ lực lao động như cách Bác đã từng. Ngọn lửa từ "thời hoa lửa" ấy sẽ mãi cháy âm ỉ trong lòng người dân An Giang, nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay là báu vật được đánh đổi bằng cả một đời sắt son.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn