CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA/
Tuổi thơ tôi lớn lên cùng những câu chuyện kể của bà, của mẹ về một thời bom đạn khốc liệt mà hào hùng. Trong số đó, câu chuyện về chị Võ Thị Sáu, một người con gái Đất Đỏ, luôn khiến tối xúc động nhất. Không phải vì những chiến công lẫy lừng, mà bởi tuổi đời quá trẻ, bởi nụ cười trước pháp trường, bởi bông hoa cài trên mái tóc trong giấy phút cuối cùng. Câu chuyện ấy không chỉ của riêng chị, mà là của cả một thế hệ “hoa lửa”nơi những người đã dâng cả thanh xuân cho Tổ quốc.
Tuổi thơ tôi lớn lên cùng những câu chuyện kể của bà, của mẹ về một thời bom đạn khốc liệt mà hào hùng. Trong số đó, câu chuyện về chị Võ Thị Sáu, một người con gái Đất Đỏ, luôn khiến tối xúc động nhất. Không phải vì những chiến công lẫy lừng, mà bởi tuổi đời quá trẻ, bởi nụ cười trước pháp trường, bởi bông hoa cài trên mái tóc trong giấy phút cuối cùng. Câu chuyện ấy không chỉ của riêng chị, mà là của cả một thế hệ “hoa lửa”nơi những người đã dâng cả thanh xuân cho Tổ quốc.
Vào năm 1933, Võ Thị Sáu cất tiếng khóc chào đời trên mảnh Đất Đỏ, nơi cây cối chỉ mọc lên từ những lớp đất đổ pha cát, nơi biển gần và đồi núi trập trùng. Cha chị làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bún bì chả ở chợ. Nhà nghòe, nhưng chị đã sớm bộc lộ một tính cách mạnh mẽ, kiên cường khác thường.
Người em gái là chị Võ Thị Bảy sau này còn kể: Có lần vì không thuộc bài, Sáu bị thầy giáo đánh vào tay bảy thước. Tay sưng vù, máu bầm tím, cố bé không rơi một giọt nước mắt. Mấy cậu con trai nghịch ngợm bắt kỳ nhông hù dọa khiến cho đám con gái khiếp vía bỏ chạy nhưng nó vẫn đứng yên, nắm cổ con kỳ nhông liệng trở lại, khiến bọn con trai cũng phải khiếp sợ.
Nhưng rồi chiến tranh đến. Những người lính Pháp với súng ống xuất hiện khắp nơi. Làng xóm tan hoang, nhiều người bị bắt, bị đánh, bị giết. Sáu còn quá nhỏ để hiểu hết mọi chuyện, nhưng trong lòng chị, ngọn lửa căm thù đã bắt đầu bén rễ từ những ngày tháng đó.
Năm 1946, Sáu theo anh trai lên vùng kháng chiến. Mười ba tuổi, em trở thành liên lạc viên cho Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Ban ngày, Sáu vẫn làm công việc đời thường như bao cô bé khác: đi chợ, đội bún, quạt bếp. Nhưng trong chiếc quang gánh, trong từng bước chân, là bao bức thư, bao mệnh lệnh được bí mật chuyển đi.
Khi đó, chị Sáu còn rất trẻ, tuổi học sinh, nhưng chị đã thể hiện sự lanh lợi, mưu trí vượt tuổi. Điều đặc biệt về những người như chị Sáu là họ không có tuổi thơ theo đúng nghĩa. Họ không có những buổi cắp sách tới trường hay những giấc mơ về một tương lai êm đềm, bởi tất cả đã bị chiến tranh cướp đi quá sớm.
Và rồi những chiến công đầu tiên đến. Năm 1948, Sáu tham gia phá tề, trừ gian, diệt tên cai tổng Tòng khét tiếng. Một lần khác, trong lễ kỷ niệm Quốc khánh Pháp 14/7/1949, giữa quảng trường đông nghịt người, Sáu và đồng đội đã ném lựu đạn vào đoàn quân địch, khiến chúng khiếp vía, tạo tiếng vang lớn trong vùng.
Thực dân Pháp và bè lũ tay sai vô cùng lo sợ trước hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong là chị Sáu, chúng ra sức truy lùng ráo riết.
Tháng 2 năm 1950, trong một trận tập kích tại chợ Đất Đỏ, chị Sáu bị bắt. Hơn một tháng bị giam cầm, tra tấn dã man tại nhà tù Đất Đỏ rồi khám Chí Hòa, chúng dùng mọi cực hình nhưng không thể lấy được một lời khai nào . Không chỉ không khai báo, chị còn mỉa mai chúng:
"Tao còn mấy thùng rác ở khám Chí Hòa, tụi bây vô mà tịch thu!"
Trước vành móng ngựa, dù các luật sư căn cứ vào tuổi chưa thành niên để biện hộ, tòa án binh Pháp vẫn tuyên án tử hình. Một bản án quá nặng cho một cô gái chưa tròn mười tám, nhưng đó cũng là thứ vũ khí duy nhất bọn xâm lược có thể dùng để trấn áp ý chí của người Việt Nam.
Chị bị giam thêm gần hai năm trước khi bị đày ra Côn Đảo. Đây là một thử thách khắc nghiệt bởi nhà tù Côn Đảo được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Vậy nhưng chính tại nơi ấy, chị đã viết nên chương cuối cùng của cuộc đời mình, một chương đẹp nhất, lẫm liệt nhất.
Rạng sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, cái lạnh Côn Đảo thấm thía từng cơn gió biển. Chị Sáu được báo sẽ bị hành quyết.
Họ đưa chị ra pháp trường. Giữa hai hàng lính, chị bước đi với đầu ngẩng cao, mắt lạnh lùng nhìn thẳng vào kẻ thù. Có một điều kỳ lạ: trên đường đi, chị thấy một bông hoa sứ trắng tinh rơi bên đường. Chị cúi xuống nhặt lên, cài vào mái tóc dài. Những người chứng kiến đều sững sờ. Trong khoảnh khắc sinh tử, cô gái trẻ vẫn giữ được vẻ đẹp hồn nhiên, vẫn khát khao cái đẹp đến tận phút cuối cùng.
Tới pháp trường, viên sĩ quan Pháp hỏi: "Chị có muốn bị bịt mắt không?"
Chị Sáu lắc đầu:
"Không cần bịt mắt tôi. Hãy để đôi mắt của tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng. Tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!"
Và bài hát Quốc tế ca vang lên. Giọng chị trẻ trung, khỏe khoắn, vút cao giữa biển trời Côn Đảo. Đó là lời thề son sắt với Đảng, với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng.
Tiếng súng nổ. Chị Sáu ngã xuống, bông hoa trắng vẫn cài trên mái tóc. Mười chín tuổi, tuổi của những bồng bột, những khát khao yêu đương, những ước mơ về một mái ấm, nhưng tất cả đã được chị đặt lên bàn thờ Tổ quốc.
Có lẽ nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã viết đúng về chị:
Người con gái trẻ măng
Giặc đem ra bãi bắn
Đi giữa hai hàng lính
Vẫn ung dung mỉm cười
Ngắt một đóa hoa tươi
Chị cài lên mái tóc
Đầu ngẩng cao bất khuất...
Võ Thị Sáu không phải là người duy nhất. Cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã sống và ngã xuống như thế.
Tôi nhớ về bà Nguyễn Thị Thu, cô gái 17 tuổi ở Quảng Trị. Năm 1972, trong 81 ngày đêm lịch sử bảo vệ Thành cổ, bà cùng bố chồng chèo đò đưa bộ đội vượt sông Thạch Hãn. Đêm đến, tối đen như mực, chỉ thoáng sáng lên khi bom đạn lóe lên. Dòng sông đỏ ngầu phù sa và máu của những người lính trẻ.
Ngày đó, bà Thu đã đưa hàng nghìn chiến sĩ qua sông. Họ phần lớn là sinh viên Hà Nội, vừa gác bút cầm súng, tuổi đời 18, 20. Bà đưa họ đi, nhưng ít ai trở về.
Có một chiến sĩ bị thương nặng, bà đưa về đến bờ, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh. Trong phút cuối, anh vẫn gào thét gọi mẹ: "Mẹ ơi!". Tiếng gọi ấy ám ảnh bà suốt cả cuộc đời.
Rồi những cô gái Ngã ba Đồng Lộc, mười người con gái tuổi đôi mươi, ngã xuống dưới mưa bom bão đạn, để những tuyến đường huyết mạch được thông suốt. Họ ra đi khi trong tim vẫn còn bao dự định dang dở: có người chưa kịp lấy chồng, có người chưa kịp về thăm mẹ, có người trong bụng còn mang một sinh linh bé nhỏ chưa kịp chào đời.
Họ đã đi qua cuộc đời mình như những cơn gió mạnh, thật nhanh, thật mãnh liệt, để lại sau lưng một trời thương nhớ, một trời biết ơn.
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chị Sáu hy sinh. Những bông hoa lê-ki-ma vẫn nở vàng rực trên quê hương Đất Đỏ. Mộ chị ở nghĩa trang Hàng Dương, Côn Đảo mỗi ngày vẫn có hàng nghìn người đến thăm viếng, thắp nén hương thơm.
Chị Sáu và những người thuộc thế hệ "hoa lửa" đã dạy chúng ta một bài học: có những thứ đáng giá hơn cả sinh mạng. Đó là độc lập, là tự do, là lòng tự tôn của một dân tộc. Họ đã sống trọn vẹn cho lý tưởng, và cái chết của họ, như Bác Hồ từng viết về chị "sống anh dũng, chết vẻ vang".
Hôm nay, khi chúng ta được sống trong hòa bình, khi những con đường mang tên chị trải dài khắp các thành phố, khi tên chị được đặt cho những ngôi trường, đó không chỉ là sự tưởng nhớ, mà còn là lời nhắc nhở: hãy sống xứng đáng với những gì cha anh đã đánh đổi. Hãy trân trọng từng trang sử hào hùng, từng khoảnh khắc thanh bình để không bao giờ lãng quên một thời hoa lửa, một thời những bông hoa đẹp nhất nở trên mảnh đất máu và hoa.
Và cứ mỗi độ tháng Giêng về, nghe gió biển Đất Đỏ thổi, lòng lại bồi hồi nhớ đến người con gái ngày ấy với bông hoa trắng cài tóc, với nụ cười trước họng súng, với khúc ca Quốc tế vút cao giữa trời Côn Đảo... mãi mãi bất tử.



