Câu chuyện thời hoa lửa (4)
Kỷ vật của liệt sĩ Trần Minh Tiến ở chiến trường được giữ gìn và công bố là một trong những câu chuyện kỳ lạ và cảm động. Liệt sĩ Trần Minh Tiến, sinh năm 1945, ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Trước khi vượt dãy Trường Sơn “đi B”, chiến sĩ trẻ để lại cho bạn gái là Vũ Lưu Liên những lá thư và cuốn nhật ký. Những trang giấy gói trọn tâm tình của anh bộ đội Trần Minh Tiến viết trong những ngày tháng rèn luyện gian khổ.
Nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến viết trong khoảng thời gian từ tháng 11/1966 đến tháng 3/1968 được nhà văn Đặng Vương Hưng (người sáng lập tổ chức Trái tim người lính Việt Nam) sưu tầm, tuyển chọn và tập hợp trong cuốn sách Trở về trong giấc mơ xuất bản lần đầu năm 2005. Năm 2021, kỹ sư Lâm Hồng Tiên, người chuyên nghiên cứu các hồ sơ chiến tranh và thông tin về liệt sĩ phát hiện thêm một cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bản chụp được lưu tại Đại học công nghệ Texas (Mỹ). Cuốn sổ lịch đề năm 1968 gồm những ghi chép cá nhân của liệt sĩ Trần Minh Tiến, thuộc Sư đoàn 308. Sổ do lính Mỹ thu giữ tại Quảng Trị năm 1968. Thời gian ghi chép từ 8/1/1968 đến 28/5/1968, gần như tiếp nối cuốn nhật ký mà liệt sĩ Tiến đã trao lại cho bạn gái trước khi vào chiến trường B. Trước đó, anh Tiên đã tra cứu và biết được thông tin về liệt sĩ Minh Tiến, bà Lưu Liên cùng tác phẩm Trở về trong giấc mơ. “Đọc thấy tên chủ nhân cuốn sổ, tôi bỗng thấy sởn gai ốc và lạnh người vì quá khớp thông tin. Ngày 2/6/2021 tôi đăng bài về kỷ vật của liệt sĩ Tiến. Tình cờ vào nhóm thông tin về cựu chiến binh, tôi thấy có bài viết về cuốn Trở về trong giấc mơ. Bài viết chị Liên đăng cách đó ít ngày, vào đúng ngày giỗ theo dương lịch của liệt sĩ Tiến”, anh Tiên nói.
Khi anh đăng thông tin lên Facebook cá nhân, bà Lưu Liên đã xác nhận cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến, do bà gửi tặng khi chia tay người yêu. “Liệt sĩ linh thiêng đã về với tôi, tôi thực sự xúc động…”, bà Liên phản hồi bài viết của anh Lâm Hồng Tiên.
Năm 1963, Trần Minh Tiến (17 tuổi) được tuyển vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện tân binh, anh được giao nhiệm vụ làm cầu thủ đá trung vệ cho đội bóng của Sư đoàn 308. Đại tá Kiều Hữu Thuần (tức Kiều Thuần, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Hà Tây cũ) nhớ lại: Năm 1965, khi Đội bóng Sư đoàn 308 giải thể vì tình hình nhiệm vụ mới, Trung đội trưởng Kiều Thuần được lệnh tiếp nhận một số chiến sĩ về đơn vị, trong đó có Trần Minh Tiến. “Đó là một thanh niên người tầm thước, da ngăm đen, thân hình chắc nịch, tính sôi nổi, hay hát và hay cười. Cậu ấy có chiếc răng khểnh rất duyên, tự nhiên và thoải mái trong giao tiếp, nên ai cũng mến”, ông Thuần kể. Trần Minh Tiến gác lại ước mơ làm cầu thủ chuyên nghiệp để đi ra chiến trường.
Hàng năm, gia đình bà Lưu Liên đều vào nghĩa trang Đường 9 (Quảng Trị) để thắp hương tưởng nhớ liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bất cứ công việc trọng đại hay dự định gì của gia đình, các con bà Liên cũng dâng hương “xin ý kiến” liệt sĩ Trần Minh Tiến, như một người thân trong gia đình. Trong nhật ký ngày 23/1/1967 của anh Trần Minh Tiến có đoạn: “Nhìn bề ngoài ai cũng tưởng mình vô tư lắm vì lúc nào cũng hát cũng cười. Khi cười, mình cũng thấy đời thêm nhiều nhựa sống. Nhưng mỗi tiếng cười đều chứa đựng một điều suy nghĩ sâu xa, cười để cho ta đỡ chán đời, cười để đỡ suy nghĩ miên man, cười để chế giễu một kẻ hèn hạ trong cuộc sống…”. Chàng trai ngoài đôi mươi cũng tự nhủ không bao giờ để mình rơi vào sự bi quan, chán nản.
Giữa tháng 3/1968, đơn vị của anh chính thức nhận lệnh đi B. Đây là thời điểm ác liệt của chiến trường miền Nam. Ngày 31/5/1968, anh Trần Minh Tiến hi sinh tại Quảng Trị. Trận đánh ác liệt khiến gần 1/4 chiến sĩ của đơn vị anh không thể trở về. Chủ nhân cuốn nhật ký chiến trường đã đi xa, nhưng cuốn sách Trở về trong giấc mơ phần nào gói ghém những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ sâu sắc đầy yêu thương và trách nhiệm của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Đó là trách nhiệm với người yêu, với cuộc đời, với Tổ quốc của người lính trẻ.
Hàng chục nghìn trang nhật ký từ chiến trường trải qua hành trình ly kỳ, nhiều tư liệu quý đã trở về với gia đình và quê hương. Trong các tác phẩm thuộc tủ sách Mãi mãi tuổi hai mươi, bên cạnh những cuốn nhật ký, ghi chép chiến trường của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân, nay có thêm một cuốn nhật ký lay động của liệt sĩ Trần Minh Tiến.
Hành trình của những người đọc tài liệu di sản chiến tranh, kết nối các thân nhân chắc chắn chưa dừng lại. Họ tiếp tục cần mẫn nối dài hành trình nâng niu những tư liệu, kỷ vật vô giá từ chiến trường.



