Câu chuyện thời hoa lửa (40)
Thời hoa lửa ấy, đất nước như một khúc trường ca viết bằng máu và nước mắt, nơi mỗi tấc đất đều thấm mồ hôi và mỗi ngọn gió đều mang tiếng súng, nơi người con gái mười tám đôi mươi bỏ lại mái tóc thề và gánh nước bên giếng làng để khoác lên mình màu áo xanh của bộ đội, nơi người cha tiễn con ra trận chỉ kịp dúi vào tay chiếc khăn tay thêu dở dòng chữ “Quyết thắng” rồi quay đi nuốt nước mắt vào trong, bởi Bác Hồ đã dạy “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và bởi lòng yêu nước đã trở thành máu thịt, trở thành lẽ sống của cả một thế hệ. Đêm đêm, dưới ánh trăng mờ như dát bạc trên chiến khu Việt Bắc, các anh bộ đội lại ngồi quanh bếp lửa bập bùng, chia nhau củ sắn lùi, miếng cơm vắt, nghe tiếng côn trùng rả rích như tiếng lòng của quê hương đang gọi, và trong khoảnh khắc yên bình ngắn ngủi ấy, anh lính trẻ lại lẩm nhẩm đọc thơ của Tố Hữu “Việt Bắc ơi, mình về với Bác / Mình về với ruộng đồng nương bãi / Mình về với tiếng hát ân tình / Mình về với sông núi quê hương”, câu thơ như một lời hẹn ước, như một ngọn đuốc soi đường cho bao bước chân không mỏi dù dép lốp đã mòn, dù vai áo đã sờn vai, dù đạn bom giặc Mỹ có trút xuống như mưa. Có những đêm hành quân qua dãy Trường Sơn, mưa rừng tầm tã như trút nước, đường trơn như mỡ, mỗi bước đi là một lần trượt ngã, là một lần máu và bùn hòa vào nhau, nhưng không ai kêu ca, không ai lùi bước, bởi phía trước là Sài Gòn, là độc lập, là ngày thống nhất non sông, và bởi trong ba lô mỗi người lính ngoài khẩu súng, ngoài nắm cơm vắt còn có hình bóng người mẹ già tóc bạc phơ ngóng con nơi đầu ngõ, có ánh mắt người yêu đợi chờ nơi bến sông, có lời thề non nước khắc vào tim. Nguyễn Thi đã viết “Những đứa con trong gia đình” như để nói thay cho bao thế hệ, “Chiến tranh không phải là trò đùa, nó là những mất mát, là những hy sinh không thể đong đếm”, nhưng cũng chính chiến tranh đã tôi luyện nên những con người thép, những con người dám lấy thân mình lấp lỗ châu mai, dám ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc, dám nằm xuống để đất nước đứng lên, như anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang trước họng súng kẻ thù, miệng vẫn hô vang “Còn giặc Mỹ thì không ai có hạnh phúc cả”, như mười cô gái ngã ba Đồng Lộc, tuổi mười tám đôi mươi, mãi nằm lại dưới lòng đất lạnh để thông đường cho xe ra tiền tuyến, để “một dải Trường Sơn” mãi không bị cắt đứt. Và rồi, sau bao năm tháng khói lửa, sau bao mùa mưa bom bão đạn, khi tiếng súng cuối cùng đã im, khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975, người ta mới hiểu thế nào là giá trị của hòa bình, mới thấm thía câu thơ của Nguyễn Duy “Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt / Như mẹ cha ta, như vợ như chồng / Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết / Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”, bởi hòa bình hôm nay được đổi bằng máu xương của cha ông, được dệt bằng nước mắt của bao người mẹ mất con, bao người vợ mất chồng, bao đứa trẻ mồ côi. Thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng câu chuyện về lòng yêu nước, về sự hy sinh, về tình đồng đội son sắt như anh em một nhà vẫn còn vang vọng mãi, nhắc cho thế hệ chúng ta rằng: hãy sống sao cho xứng đáng với những gì đã mất, hãy giữ gìn đất nước này như giữ gìn đôi mắt của mình, bởi như Chế Lan Viên đã viết “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”, và tâm hồn của dân tộc Việt Nam mãi là một bản anh hùng ca bất tử, viết bằng máu, bằng thơ, bằng tình yêu không bao giờ tắt.



