Bài viết

Câu chuyện thời hoa lửa

Hưng Yên03/12/2025J (THCS An Ninh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi viết những dòng này khi mái đầu đã bạc quá nửa, tay đã run mỗi khi trời trở gió. Vậy mà lạ lắm, nhớ về những ngày cuối tháng Tư năm 1975, tim tôi vẫn đập mạnh như thuở còn hai mươi. Bao nhiêu năm đã qua, nhưng có những gương mặt, có những tiếng gọi, có những tiếng nổ… chưa bao giờ rời khỏi tôi.

Năm ấy, tôi là chiến sĩ thuộc Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Nhiệm vụ của đơn vị là tiến công vào hướng Đông Bắc Sài Gòn, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất lúc đó là đánh chiếm và giữ vững cầu Rạch Chiếc – cây cầu huyết mạch nối xa lộ Biên Hòa vào nội đô.

Cây cầu này, nếu ta không chiếm được, xe tăng và bộ binh khó lòng tiến nhanh vào trung tâm thành phố.

Đêm 29/4/1975, trời Sài Gòn oi nóng ngay cả khi đã khuya. Không có trăng. Chỉ có tiếng côn trùng thỉnh thoảng kêu lên giữa những bụi rậm ven đường. Chúng tôi nằm ép sát đất, súng ôm trước ngực, chờ lệnh tấn công. Phía trước là cầu Rạch Chiếc, nơi quân đội Sài Gòn bố trí nhiều hỏa lực mạnh, có cả xe tăng và lô cốt.

Bên cạnh tôi lúc đó là thằng Tư “đen” – bằng tuổi tôi, quê ở Trà Vinh. Nó nhỏ con nhưng rắn rỏi, hai mắt lúc nào cũng sáng quắc. Nó cười nhỏ:
– “Qua được cây cầu này là coi như ngày về gần lắm rồi nghen mày…”

Tôi chỉ gật, không nói gì. Bởi lúc ấy, giữa ranh giới sống – chết, lời nói trở nên rất nhẹ.

Khoảng 2 giờ sáng. Pháo ta bắt đầu bắn mở đường. Đất dưới người tôi rung lên từng chập như có ai lật úp cả mặt đất. Tiếng pháo, tiếng súng, tiếng đạn xé gió hòa vào nhau thành một bản nhạc chết chóc, nhưng với chúng tôi – đó là bản nhạc của ngày chiến thắng.

Lệnh xung phong vang lên.

Chúng tôi lao lên.

Đạn từ phía cầu bắn xuống như mưa. Mặt đường tóe lửa. Có người phía trước vừa đứng dậy đã ngã quỵ, không kịp kêu một tiếng. Tôi không nhớ mình đã bắn bao nhiêu viên đạn, chỉ nhớ mùi khói thuốc súng trộn lẫn mùi khét của bê tông cháy, mùi tanh của máu.

Tổ của tôi gồm 6 người, nhiệm vụ là áp sát chân cầu, tiêu diệt một ổ đề kháng bên phải. Chúng tôi bò men theo bờ tường, từng chút, từng chút một. Phía trên đầu là ánh pháo sáng le lói như những con mắt lạnh lẽo.

Bỗng “ẦM!”

Một tiếng nổ chát chúa vang lên.

Tôi bị hất văng sang một bên. Tai ù đi, mắt tối sầm lại vài giây. Khi tỉnh lại, tôi nhìn thấy thằng Tư “đen” nằm bất động cách tôi vài mét, nửa người trên bê bết máu.

Tôi bò tới…
– “Tư! Tư!”

Nó mở mắt, nhìn tôi, khóe miệng nhếch lên như muốn cười.
– “Tao… chắc không qua nổi cầu này rồi…”
– “Im đi! Mày còn sống mà. Ráng lên!”

Nó lắc đầu yếu ớt:
– “Nghe tao nè… nếu… có về được… nói với má tao… là… tao không hối tiếc…”

Nói rồi, bàn tay nó buông thõng xuống. Đôi mắt vẫn còn mở, nhìn về phía cây cầu đang chìm trong khói lửa.

Tôi cắn chặt răng. Không được khóc. Không có thời gian cho nước mắt. Tôi đặt nhẹ người nó xuống rồi tiếp tục lao lên.

Khoảng 5 giờ sáng, sau nhiều đợt xung phong dữ dội, chúng tôi đã áp sát được phần lớn khu vực cầu. Địch chống trả quyết liệt nhưng đã bắt đầu rời rạc. Đến gần 7 giờ, cầu Rạch Chiếc cơ bản được kiểm soát.

Nhưng cái giá phải trả… quá đắt.

Nhiều đồng đội của tôi nằm lại trên những bậc cầu bê tông ấy. Có người chưa kịp biết Sài Gòn đã gần trong tầm tay. Có người hy sinh chỉ vài giờ trước khi cả miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Sáng 30/4/1975, khi chúng tôi tiếp tục tiến vào nội đô, Sài Gòn hiện ra trước mắt – đông đúc, ồn ào, nhưng giờ đây là sự ồn ào của hòa bình đang đến. Người dân hai bên đường vẫy cờ, khóc, cười, mang nước, mang bánh trao cho bộ đội. Tôi nhìn những khuôn mặt rạng rỡ ấy, mà trong lòng vừa vui vừa đau.

Vui vì đất nước đã thống nhất.

Đau vì biết bao người sẽ không bao giờ được nhìn thấy khoảnh khắc này.

Chiều hôm đó, khi đã dừng quân, tôi lặng lẽ lấy trong túi áo ra mảnh giấy nhỏ – tờ giấy Tư “đen” từng nhờ tôi giữ dùm trước giờ đi chiến đấu. Trên đó là dòng chữ nguệch ngoạc:
“Mẹ ơi, nếu con không về, mẹ đừng buồn nhiều. Con đi cho nước nhà được yên.”

Tôi ngồi xuống, dựa lưng vào bánh xe tăng, nhìn dòng người qua lại mà cứ để nước mắt chảy. Không phải vì hối hận. Mà vì thấy sự bình yên này được đổi bằng máu của biết bao con người tuổi đôi mươi.

Giờ đây, khi kể lại cho các cháu, cho những người trẻ, tôi không mong các cháu phải nhớ tên tôi. Tôi chỉ mong các cháu hiểu rằng:
Tự do, hòa bình mà các cháu đang hưởng hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được xây bằng xương máu của những người như thằng Tư, như bao đồng đội khác của tôi, những người đã nằm lại mãi mãi ở tuổi hai mươi…

Và mỗi lần đi qua những cây cầu, những con đường của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, tôi lại thầm gọi:
“Các đồng đội ơi… đất nước mình thống nhất rồi. Mấy cậu yên lòng nhé…”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn