Bài viết

Câu chuyện thời hoa lửa (9)

Đà Nẵng27/12/2025Đỗ Ngân Hà (THPT PHAN CHÂU TRINH)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Tui biểu rồi nghe: đêm nằm, hổng được thở mạnh, thở mạnh là bọn hắn nghe, nó liệng lựu đạn vô hầm đó!”
                  – Tam Kỳ, 1975 –

Hai mươi tám ngày đêm trước giờ giải phóng, không khí mỗi điểm chốt quanh thị xã lúc nào cũng căng như dây đàn. Mỗi mét đất đi qua đều in dấu chân của những người vừa từ phòng học bước thẳng vào chiến trường, tay cầm súng mà vai còn thơm mùi vở mới. Gọi là bộ đội, nhưng mấy gương mặt xanh non ấy thật ra phần lớn mới chỉ kịp nếm vài mùa thi, chưa ai hình dung được chỉ một bước rẽ cuộc đời lại dẫn tới nơi cái sống cái chết đứng gần nhau đến thế.

Khi lệnh tổng công kích vào chiến trường Khu V truyền xuống – nhanh hơn cả những gì mọi người kịp tưởng – thì đoàn người trẻ rời mái trường, rời bàn ghế gỗ còn dính phấn trắng, nối nhau hành quân vào hướng Tam Kỳ. Có đứa còn khai thêm tuổi để được đi cùng. Có đứa trong ba lô vẫn kẹp cuốn tập thơ, nói “để dành, mai mốt hòa bình đọc tiếp”.

“Tết năm ni chưa kịp ở nhà, đơn vị tui nhận lệnh hành quân gấp. Vừa dợm bước ra khỏi sân kho Hải Lăng là biết: chuyến ni vô hẳn chiến trường Khu V… Chừ nghe người ta hay nói lại, chớ đúng lúc đó, đơn vị tui đi sớm nhứt, có chi là trúng hết vô mình hết.”

Những ngày đầu đặt chân qua đèo Le, đèo Quế, cảnh tượng hiện ra làm ai cũng lặng người. Đất miền Trung hẹp, dãy núi dựng đứng, rừng sim rừng mua tím quanh triền dốc, còn dưới thung lũng là đường 1A – sợi gân chính dẫn thẳng vào thị xã Tam Kỳ. Từ xa, tiếng pháo vọng về từng chập; phía đông, mùi gió biển Hà Lam thốc vào, mằn mặn nhưng lạnh lẽo lạ kỳ.

“Qua khỏi Truông Ổi một cái là nghe khác liền. Ngó xuống Tam Kỳ, dân đội nón lá cũ rích, tay ôm rổ đi tránh pháo, nghe ‘đặc giọng’ là biết vô tới đất Quảng Nam rồi đó.”

Khi đơn vị áp sát các điểm chốt ven suối Đá, cũng là lúc tình hình nóng lên dữ dội. Phía địch dựng tuyến phòng ngự dày đặc quanh khu vực cầu Kỳ Phú, kiểm soát quốc lộ. Bộ đội phải men theo những bãi đất cằn cháy nắng, đánh bật từng ổ đại liên, từng ụ cát kiên cố.

Ban ngày là khói lửa, là từng loạt đạn réo qua đầu, là những đợt phản kích của đối phương từ các lô cốt san sát. Có khi vừa chiếm được một ụ súng, chưa kịp thở, pháo từ phía Trà Cai đã nổ rền dội xuống. Trong những trận đầu, bên ta thu được mấy khẩu CAR-15 do địch bỏ lại khi rút về tuyến trong, một khẩu M72 còn mới tinh – chiến lợi phẩm đầu tiên của mũi tiến công hướng Bắc Tam Kỳ.

Nhưng cũng trong những trận đầu ấy, đã có bóng người ngã xuống khi tuổi đời chưa kịp qua đôi mươi.

Khi đêm xuống, chiến trường đổi sắc. Không còn tiếng máy bay, chỉ còn tiếng côn trùng và hơi đất ẩm. Các tiểu đội chia nhau đào hầm sát hơn, sâu hơn; đất ở Tam Kỳ cát lẫn sỏi, mỗi nhát cuốc đều bật tiếng khô khốc. Ai canh gác thì lấy mũ sắt che trước ngực, nép mình sát lũy đất. Ai vừa chiến đấu ban ngày thì ngồi lại hát khe khẽ vài câu hò Quảng – giọng kéo dài, trầm, như thổi hơi ấm vào lòng đêm.

Trong một góc hầm chữ A ven suối Đá, mấy chiến sĩ kê vai ngồi sát nhau, tay đặt trên khẩu súng còn ấm hơi, mắt nhìn nhau mà ánh buồn tan dần. Có người nhớ mẹ ở quê Đại Lộc hay chờ cửa mỗi chiều; có người nhắc đứa em nhỏ hay chạy theo xin bánh tráng nướng mỗi lần anh về phép; có người cẩn thận xếp lá thư chưa kịp gửi, gấp lại, đặt dưới chiếc mũ méo mó vì những chuyến bò trườn cả ngày.

Buổi đầu, ai cũng học cách “gọi tên nhau”. Gọi để khi pháo phủ trắng trời, còn biết ai mất ai còn. Gọi để mai mốt hòa bình, có người về kể lại với gia đình từng khuôn mặt từng nụ cười. Có đêm gió từ phía Nghĩa Thọ thổi xuống, mang theo mùi lúa trổ đòng; ai đó cất một câu hò:

“Quê mình chi lạ rứa, xa rồi mà nhớ hoài…”

Tiếng hát nhỏ, nhưng dường như gom cả thôn xóm vào trong lòng hầm nhỏ.

“Tụi tui giữ nhau bằng mấy chuyện nhỏ thôi: xé trái bắp chia nửa, kê vai cho nhau ngủ, thay phiên gác chớ để thằng mô kiệt sức. Nói chung là hiểu nhau bằng ánh mắt. Có khi ai mà anh em lỡ đi, đứa còn lại gánh luôn phần nhớ, phần mơ của người đó mà thực hiện dùm, nói chung là, xót xa dữ lắm…”

Lửa tình đồng chí âm ỉ trong từng mạch đất, từng bước chân, ấy là thứ lửa không nhìn thấy nhưng luôn thắp sáng qua ánh mắt, qua cái siết vai giữa phút hiểm nghèo, nó cháy trong tiếng thở dốc giữa rừng đêm, trong hơi ấm của manh áo chia đôi, trong cái gật đầu rất khẽ mà đủ thay cho lời “cứ yên tâm, có tôi đây”. Chính ngọn lửa ấy làm người ta dám bước thẳng vào hướng pháo, dám lao lên trước cả khi hiệu lệnh vừa dứt, bởi phía sau còn đồng đội đang trông cậy, còn Tổ quốc đang cần. Và cũng chính nó giữ người lính khỏi gục ngã trước cái mệt ngấm dần đến tận xương, giữ họ đứng thẳng giữa bùn đất, mưa bom, để mỗi bước chân đều không phải bước một mình.

“Khi tui mà hô chạy, đứa mô cũng chạy hết. Thương tích thì kéo nhau về. Chớ đứa mô bỏ bạn, tui bắn hắn thiệt à! Nói rứa cho tụi hắn đừng sợ, chớ lòng tui cũng mềm như ai…”

Sáng 28/03, các mũi tiến công đồng loạt áp sát nội thị. Đêm trước đó, đơn vị nhận tin từ trên: phải giữ vững hướng tây – nơi mở đường cho bộ phận chủ công đánh thẳng vào dinh tỉnh trưởng. Trên từng đoạn giao thông hào, tiếng pháo địch rót xuống liên miên, buộc tất cả phải áp sát đất mà trườn đi. Có lúc lựu đạn địch ném sát miệng hầm, từng mảnh đất tung lên như mưa.

“Đêm mô cũng dặn tụi hắn nằm im, thở khẽ, áp tai vô đất mới nghe được tiếng chân tụi bên kia. Hở ra tiếng thở mạnh một cái là lựu đạn nó vô liền nên phải hết sức cẩn thận.”

Thế rồi thời cơ cũng tới. Rạng sáng 24/03/1975, từ phía đường Trưng Nữ Vương, xe địch bắt đầu rút. Tiếng xích sắt nghiến lên mặt đường nghe rõ từng quãng. Lực lượng chủ lực ào lên. Cờ giải phóng phấp phới trên nóc Ty cảnh sát đầu tiên. Mặt trời vừa lên khỏi hàng dừa sau khu vực An Mỹ – Phước Hòa thì Tam Kỳ chính thức sạch bóng quân địch. Niềm vui ào đến nhanh đến nỗi nhiều chiến sĩ còn chưa tin mình đã sống qua đêm cuối ấy.

Ngày 24 tháng 3, Tam Kỳ được giải phóng, tiếng khóc hòa vào tiếng cười, tiếng chân người dân chạy ra đường, tay nắm tay bộ đội mà nước mắt ràn rụa. Những người lính trẻ – người trở về, người nằm lại – đều hóa vào đất đỏ xứ Quảng, vào cây kẽo cò bên bờ Truông Ổi, vào từng viên ngói, từng nhành sim tím.

Sau ngày giải phóng, buổi giao lưu giữa bộ đội và đồng bào diễn ra giữa sân làng còn thơm mùi rơm mới. Lũ trẻ ríu rít chạy quanh, tay kéo lấy ống quần bộ đội như đã quen từ lâu. Những bà mẹ quê mang ra rổ khoai, rổ bắp, thứ gì ngon nhất cũng đặt vào tay người lính, miệng không ngừng nhắc: “Ăn cho lại sức nghe con.” Mấy anh bộ đội trẻ đỏ mặt cười, trên vai súng đã tháo khóa an toàn nhưng trong mắt vẫn còn ánh cảnh giác của những tháng ngày vừa qua. Giữa sân, tiếng đàn mandolin vang lên những nốt ngân trong, hòa vào tiếng vỗ tay của dân làng. Ngọn đèn dầu lập lòe hắt bóng người lính lên bức vách, hòa cùng bóng của dân quân, của bà con—những con người vừa mới hôm qua còn run rẩy trong khói lửa, giờ đã đứng cạnh nhau, bình yên đến lạ. Ở khoảnh khắc ấy, người ta thấy rõ hơn bao giờ hết: chiến tranh có thể chia ly, nhưng hòa bình lại gắn kết. Những câu chuyện kể qua nụ cười, qua giọt nước mắt, qua cái bắt tay thật chặt như nối thông hai bờ đau thương và hi vọng. Người lính nhìn bà con, và bà con nhìn người lính, đều hiểu rằng cuộc đoàn tụ này là cái giá của biết bao mồ hôi, máu đỏ và niềm tin không tắt.

Câu chuyện này – mảnh ký ức giữa muôn vàn ký ức của một thời rực lửa – được kể lại bởi đồng chí Cơ, người từng làm tiểu đội trưởng trong trận đánh mở cửa tiến vào Tam Kỳ năm 1975, ông từng là sinh viên miền Bắc tình nguyện tham gia vào các mặt trận. Hiện nay ông đang sinh sống và làm việc tại Tam Kỳ (Quảng Nam, nay là thành phố Đà Nẵng). Không chỉ là câu chuyện của riêng ông, mà là lời chứng sống động cho một thời mà tuổi hai mươi của biết bao người đã hóa thành dải sáng trên con đường giải phóng miền Nam.

Đứng ở Tam Kỳ hôm nay, nhìn hàng dầu già nghiêng bóng xuống quốc lộ, nghe tiếng chuông chùa Chiên Đàn ngân trong chiều, người ta vẫn nghe vọng lại tiếng chân những người lính đang tiến vào thị xã năm ấy. Không phải âm vang của chiến tranh – mà là âm vang của lòng can đảm, của tình thương, của sự hy sinh để hôm nay đất nước được nguyên vẹn. Và mỗi khi nhớ về ngày 24/03, người ta lại nhớ về họ – những người đã sống và đã đặt tuổi trẻ của mình giữa làn đạn – như lời biết ơn sâu thẳm nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện thời hoa lửa (9) | Câu chuyện thời hoa lửa