Câu chuyện thời hoa lửa - Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc
Đất nước chúng ta là một đất nước có nhiều bí ẩn, bí ẩn nhất là lịch sử kháng chiến trường kỳ của dân tộc, hiếm ai có thể tim ra đúng nguyên nhân vì sao chúng ta lại có thể chiến thắng mọi cường quốc hùng mạnh, sức mạnh của dân tộc vẫn mãi là một câu hỏi lớn.
Nguyễn Văn Thạc sinh ngày 14 tháng 10 năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội, là con thứ 10 trong 14 anh em của một gia đình thợ thủ công. Cha mẹ có xưởng dệt nhỏ, thuê người dệt áo len và áo sợi. Khi Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, cha mẹ ông phải bán rẻ hết nhà cửa, xưởng máy, để sơ tán về quê tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Hợp tác xã không có việc làm, nhà lại đông con nên tài sản gia đình nhanh chóng khánh kiệt. Bà mẹ Thạc phải đi cắt cỏ bán lấy tiền ăn.
Khi gia đình đã sơ tán về quê ở Cổ Nhuế, Thạc học tại trường cấp III Yên Hoà B. Hằng ngày, anh phải đi bộ 4 cây số đến trường học; ngày nghỉ, thì đi bộ hàng chục cây số đến tận Thư viện Hà Nội để đọc sách. Tuy vất vả nhưng Thạc học giỏi đều tất cả các môn, đặc biệt là môn văn. Trong những năm học phổ thông, anh đã có nhiều tác phẩm văn, thơ được đăng trên các báo, được tuyển chọn in thành sách cùng với các tác phẩm của các tác giả thanh thiếu nhi khác như Trần Đăng Khoa, Hoàng Nhuận Cầm...
Trong khi chờ gọi nhập ngũ, Thạc đã xin thi và đỗ vào khoa Toán – Cơ của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Vừa học năm thứ nhất, ông vừa tự học thêm để hoàn thành chương trLiệt sĩ Nguyễn Văn Thạc là tấm gương tiêu biểu cho câu nói mỗi nghệ sĩ đều là một chiến sĩ, gác lại bút nghiên mà lên đường chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Ngày 6 tháng 9 năm 1971, cùng với 21 sinh viên của K15 Toán - Cơ (Đại học Tổng hợp) và nhiều sinh viên khác, anh gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó, hi sinh tại chiến trường Quảng Trị. Nguyễn Văn Thạc ra đi khi ước mơ còn dang dở, chưa chứng kiến đất nước hoàn toàn giải phóng, bao hoài bão đành bỏ ngang, ông là minh chứng rõ ràng nhất cho tội ác của chiến tranh.ình năm thứ 2 và được nhà trường đồng ý cho lên học thẳng năm thứ 3. Tháng 9/1971, anh nhập ngũ. Chưa đầy một năm sau, ngày 30/7/1972, anh hy sinh tại chiến trường Thành cổ Quảng Trị – trận đánh ác liệt nhất, nơi khốc liệt nhất, ở vị trí nguy hiểm nhất – lính thông tin. Bị mảnh đạn cắt đứt động mạch đùi, máu chảy không ngừng… Trong cơn nguy kịch, anh vẫn tỉnh táo nói với đồng đội: "Mình tỉnh thế này tức là sắp chết rồi... Chỉ tiếc là không còn chiến đấu được nữa... Bao dự định còn dang dở..." Từng trang nhật ký của anh – viết trong những lần dừng hành quân – đã trở thành “Mãi mãi tuổi 20”, cuốn sách lay động hàng triệu trái tim, tái bản hơn 10 lần với hơn 200.000 bản in.
Nguyễn Văn Thạc không chỉ là một người lính đã hy sinh, mà vai trò của anh còn là đại diện tiêu biểu cho một thế hệ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", là tấm gương về lý tưởng sống, khát vọng cống hiến và tâm hồn trong sáng của tuổi trẻ Việt Nam. Sự dấn thân của anh được nuôi dưỡng từ những ước mơ học vấn và từ tinh thần yêu nước của thời đại, thể hiện qua quyết định gia nhập quân ngũ giữa lúc chiến tranh lên cao. Hình ảnh anh gói ghém trong nhật ký Chuyện đời, nơi những trang viết vừa khắc họa sự khốc liệt của chiến tranh vừa biểu lộ sự nhạy cảm, lãng mạn và niềm tin vào ngày mai tươi sáng. Sự hy sinh tại Quảng Trị ở tuổi 20 không chỉ là một mất mát cá nhân mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của sự hy sinh vì độc lập và tự do cho đất nước. Vai trò của Thạc vừa mang tính cá nhân vừa mang tính hệ thống: anh là một biểu tượng để thanh niên soi đường mà tiến tới, đồng thời là minh chứng cho khả năng kết hợp giữa trí tuệ và nhiệt huyết của thời đại Hồ Chí Minh. Di sản của anh không chỉ ở những dòng nhật ký hay trong phim ảnh mà còn ở sự lan tỏa của tinh thần cống hiến trong nhiều thế hệ trẻ, nhắc nhở mỗi người rằng lý tưởng sống có thể trở thành động lực hành động và làm giàu tâm hồn quốc gia.



