CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG MAI THỊ ÚT
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA ANH HÙNG MAI THỊ ÚT
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
ANH HÙNG MAI THỊ ÚT
Mai Thị Út (tức Má Tám Hội) sinh năm 1912, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hạnh Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là phường Mỹ Phước Tây, tỉnh Đồng Tháp, tham gia cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí là Thượng úy, giao liên hợp pháp vận tải vũ khí thuộc Phòng Hậu cần Quân khu 8, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Má Tám Hội xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lúc nhỏ ít được học hành nhưng đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng. Má Tám Hội có 8 người con đều noi gương cha mẹ hoạt động cách mạng. Chỉ trong 3 tháng năm 1961, Má Tám Hội vô cùng đau đớn vĩnh biệt chồng và 2 con trai hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đồng chí là một tấm gương sáng về sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp cách mạng. Trong chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, khéo léo tổ chức quần chúng đấu tranh gây ảnh hưởng rất lớn trong phong trào đấu tranh chính trị tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Bằng sự mưu trí thông minh, sáng tạo Má Tám Hội đã vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy vận chuyển cho các chiến dịch hàng trăm tấn vũ khí và thuốc men an toàn, lập nhiều chiến công xuất sắc.
Ngày 11/6/1961, là Hội trưởng phụ nữ xã, Má Tám Hội đã tập hợp khoảng 2.000 người đến khu trù mật Mỹ Phước Tây biểu tình phản đối Mỹ - Diệm. Địch đã bắn vào đoàn biểu tình làm chết chị Thái Thị Kiều và bị thương 3 người khác. Má Tám Hội đã bình tĩnh chỉ huy đoàn biểu tình cử người chở thương binh về bệnh viện Cai Lậy, còn mình trực tiếp quay về xã và huyện xin ý kiến chỉ đạo. Sáng hôm sau đồng chí tiếp tục lãnh đạo đoàn biểu tình khoảng 10.000 người tham gia, khiêng thi hài chị Kiều ra đấu tranh với quận trưởng buộc nó phải bồi thường nhân mạng, hứa trừng trị tên bắn chết chị Kiều và không bắn pháo bừa bãi, đốt nhà, gom dân vào khu trù mật.
Đầu năm 1972, yêu cầu vận chuyển cho chiến dịch rất lớn và khẩn trương, trong lúc đồn bốt địch dày đặc, chúng tăng cường lực lượng chốt chặn các kênh rạch, đường giao thông chính hòng cắt đứt các đường vận chuyển của ta, song Má Tám Hội đã mưu trí, khéo léo nghi binh địch, dùng thuyền 2 đáy vận chuyển trót lọt hàng chục chuyến, gần 100 tấn vũ khí, 2 tấn thuốc men qua 25 đồn bốt địch an toàn. Có khi lặn lội suốt đêm đưa vũ khí cất giấu xuống hầm bí mật để bộ đội đến nhận, có lần vừa cất giấu xong địch phát hiện bắt đồng chí đánh đập dã man. Trước sự khéo léo và khí tiết anh dũng cộng với sự đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch không khai thác được gì buộc phải trả tự do cho đồng chí. Bằng tấm lòng nhân hậu, bác ái Má Tám Hội đã tuyên truyền, giáo dục, kêu gọi được nhiều gia đình và anh em binh lính quay trở về với cách mạng.
Sau Xuân 1968, trước chính sách gom dân lập ấp chiến lược và đánh phá ác liệt, Má Tám Hội đi đầu vận động nhân dân bám đất sản xuất, nuôi giấu bộ đội. Đồng chí dành toàn bộ lúa gạo của gia đình, vay mượn thêm hàng trăm kilôgam lương thực để cung cấp cho lực lượng cách mạng; tổ chức sản xuất hàng chục công lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm, tất cả đều phục vụ bộ đội, không vụ lợi cá nhân.
Với tấm lòng nhân hậu, đức hy sinh và ý chí sắt son, Má Tám Hội được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba cùng nhiều bằng khen, giấy khen. Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí nghỉ hưu và từ trần. Ngày 20/12/1994, Mai Thị Út được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận xứng đáng công lao của người mẹ giao liên kiên trung trên chiến trường Khu 8.



