Câu chuyện thời hoa lửa: Anh hùng Nguyễn Văn Bảy
Câu chuyện thời hoa lửa - Anh hùng Nguyễn Văn Bảy
Anh hùng Nguyễn Văn Bảy sinh năm 1936 ở huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc ( nay là tỉnh Đồng Tháp) tên thật là Nguyễn Văn Hoa, là con thứ bảy trong gia đình. Do người Nam Bộ hay gọi theo thứ tự nên dần cái tên Nguyễn Văn Bảy thành tên chính. Khoảng năm 1953, do không chịu lấy vợ theo ý gia đình, ông bỏ theo bộ đội, trở thành du kích khi 17 tuổi. Năm 1954, ông tại ngũ trong đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết ra miền Bắc. Năm 1960, ông được chuyển binh chủng từ bộ binh sang không quân, theo học lớp lái máy bay phản lực ở Liên Xô. Trước đó, do học chưa hết lớp 3, phải học ở Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn và được phổ cập một lèo từ lớp 4 lên lớp 10. Ban đầu ông học lái máy bay Yak-52, sau đó chuyển dần lên Mig-15, Mig-17. Tháng 4 năm 1965, lớp đào tạo hoàn thành tốt nghiệp trở về nước, đáp máy bay xuống sân bay Gia Lâm.
10h ngày 19 tháng 6 năm 1965, biên đội Mig-17 của Nguyễn Văn Bảy cất cánh. 10h10 thì Không quân Việt Nam phát hiện máy bay Mỹ trên bầu trời Yên Thế và quyết định tấn công. Lực lượng Mỹ dựa vào số đông phản kích. Trận này máy bay của ông bị trúng 1 quả tên lửa nổ gần, thân máy bay bị 82 (có nguồn nói 84 ) vết thủng, có những vết thủng lớn hơn cả bàn tay, nhưng ông vẫn cố gắng điều khiển máy bay hạ cánh an toàn. Đây được xem là kỳ tích khi hiếm có phi công tiêm kích phản lực nào trên thế giới mà máy bay bị thương gần nát khúc đuôi vẫn còn bình tĩnh và tự tin đưa nó về hạ cánh an toàn.Ngày 24 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Võ Nhai (Bắc Thái), phát hiện hai máy bay Không lực Hoa Kỳ đang bám đuổi máy bay của Không quân Nhân dân Việt Nam. Ông Bảy cùng một đồng chí bất ngờ lao thẳng vào đội hình đối phương và bám riết nổ súng, một máy bay Mỹ bốc cháy, rớt tại chỗ. Trận này biên đội của ông bắn rớt hai máy bay Mỹ, riêng ông hạ một chiếc, đó là chiếc F-4C của thiếu tá Mỹ John Roberton. Ngày 29 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Việt Trì (Vĩnh Phú), biên đội máy bay Việt Nam bị máy bay Mỹ với số lượng đông hơn nhiều lần bám đuổi. Nguyễn Văn Bảy quay lại đối đầu và bắn hạ một máy bay. Ngày 29 tháng 6 năm 1966, đơn vị Nguyễn Văn Bảy không chiến với tốp Thần sấm F-105D đang đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội). Trận này Nguyễn Văn Bảy hạ chiếc chỉ huy của Thiếu tá Murphy Neal Jones. Ngày 5 tháng 9 năm 1966, tại vùng trời khu vực Cầu Giẽ - Phủ Lý giáp ranh giữa Hà Tây và Nam Hà, phát hiện thấy hai máy bay F-8 sau khi ném bom định lẫn vào mây mù bỏ trốn. Phi công Nguyễn Văn Bảy và Võ Huy Mẫn đuổi theo hạ hai chiếc này. Sau trận này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng huy hiệu cho hai phi công.Ngày 16 tháng 9 năm 1966, mười sáu máy bay F-4 và F-105 tiến vào vùng trời Chí Linh (Hải Dương), chia nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội bốn máy bay Việt Nam. Trong trận chiến này, cả biên đội Việt Nam hạ ba chiếc F-4 trong đó ông Nguyễn Văn Bảy hạ một chiếc, hạ cánh an toàn. Ngày 24 tháng 4 năm 1967, từ sân bay dã chiến Kiến An, đơn vị Nguyễn Văn Bảy chiến đấu với tốp máy bay Mỹ đánh cảng Hải Phòng. Chiếc Mig-17 của ông tiếp cận và bắn hạ chiếc F-8C do Thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Khi những máy bay hộ tống quay lại định trả thù, thì ông Bảy bay ngoặt tránh đòn lao máy bay hạ gục một chiếc F-4H. MiG-17 là loại máy bay đã rất lạc hậu vào thời điểm đó: không có radar và tên lửa, vận tốc tối đa chỉ đạt Mach 0,9, nó không thể sánh được với loại MiG-21 hoặc các tiêm kích đời mới của Hoa Kỳ. Song nhờ chiến thuật hợp lý, Nguyễn Văn Bảy đã giành được những thắng lợi đáng kể. Trong hai năm 1966-1967, ông đã lái chiếc MiG-17 xuất kích 94 lần, 13 lần nổ súng và bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Không có phi công MiG-17 nào đã bắn rơi nhiều máy bay hơn ông, và ông cũng chưa bị bắn rơi lần nào.Sau năm 1967, theo chính sách giữ gìn phi công giàu kinh nghiệm, ông không tiếp tục chiến đấu mà được rút về làm công tác huấn luyện, đào tạo và truyền thụ kinh nghiệm cho lớp phi công mới.



