Câu Chuyện Thời Hoa Lửa Của Anh Hùng Phan Đình Giót
Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai cho đồng đội tiến lên tiêu diệt hỏa lực địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hình ảnh này mãi mãi là hình tượng sáng ngời khí thế tiến công của người chiến sĩ cách mạng
Chẳng biết tự bao giờ, hình ảnh những người bộ đội dù trong thời chiến hay thời bình đã trở thành điểm tựa vững chắc cho mỗi người dân. Không có gì khắc sâu vào lịch sử như những bước hành quân của người lính trẻ. Khi đất nước gọi, họ rời bỏ làng quê, rời xa gia đình, mang theo niềm tin tin tưởng rằng mình sẽ góp phần bảo vệ non sông. Đó là năm tháng tồn tại và cái chết chỉ cách nhau một tích tắc. Dưới làn sống mưa bảo chàng trai lứa tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy đi tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “ Hãy sống thay phần người đi xa.” Những câu chuyện về lòng dũng cảm, về sự hy sinh, về tình yêu quê hương đất nước vẫn được truyền lại, trở thành ánh sáng soi đường cho thế hệ mai sau. Câu chuyện hoa lửa mà em muốn lan toả hôm nay chính là về người anh hùng – Phan Đình Giót – người con của quê hươngAnh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai cho đồng đội tiến lên tiêu diệt hỏa lực địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hình ảnh này mãi mãi là hình tượng sáng ngời khí thế tiến công của người chiến sĩ cách mạng.
Anh hùng Phan Đình Giót sinh năm (1922- 1954) , dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí tham gia lực lượng tự vệ chiến đấu. Sống trong quân ngũ, Phan Đình Giót luôn luôn tự giác, gương mẫu về mọi mặt, hết lòng yêu thương giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên anh luôn được đồng đội mến phục, tin yêu.
Trong cuộc đời chiến đấu của Phan Đình Giót, anh đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và Chiến dịch Điện Biên Phủ... Trận đánh nào anh cũng nêu cao tinh thần quả cảm, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Quá trình chiến đấu hai lần bị thương nặng, nhưng anh cố nén nỗi đau tiếp tục chiến đấu. Mới ba tháng tuổi quân, Phan Đình Giót đã tham gia chiến đấu ở Đường 18 trong trận đánh đồn Tràng Bạch. Cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt. Tiêu diệt xong lô cốt số một, Phan Đình Giót bị thương nặng, cấp trên cho lui ra phía sau, nhưng anh vẫn xin ở lại, tiếp tục làm tròn nhiệm vụ cho đến khi trận đánh kết thúc.
Trong trận đánh tiêu diệt vị trí Chùa Tiếng (cuối năm 1950), trong khi bí mật cắt hàng rào, xung kích tranh thủ đào công sự, nhưng đất rắn, anh em không sao bí mật được. Nghe tiếng động, địch trong cứ điểm bắn ra và gọi pháo bắn tới. Quân ta xông lên đánh bộc phá phá các lô cốt trầy trật. Phan Đình Giót bò lên đặt bộc phá đánh lô cốt số một. Lô cốt bị thủng, anh liền ném lựu đạn vào đó tiêu diệt toàn bộ quân địch, tạo điều kiện cho đơn vị đánh thắng.
Trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Phan Đình Giót cùng đơn vị hành quân gần 500km, vượt qua nhiều đèo, dốc, mang vác nặng. Chân Giót bị nứt nẻ, đau buốt, rướm máu nhưng anh vẫn cố gắng tiếp tục đi. Không chỉ vậy, trong quân ngũ Phan Đình Giót còn lo từng giấc ngủ, bát canh cho anh em. Mỗi khi thấy đồng chí có khuyết điểm, anh nhẹ nhàng phân tích, khuyên nhủ làm cho anh em vừa cảm động lại nhanh chóng nhận ra lỗi lầm. Cũng chính vì thế, Phan Đình Giót được anh em trong đơn vị gọi là anh cả.
Chiều ngày 13-3-1954, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 được lệnh nổ súng tấn công tiêu diệt cứ điểm Him Lam. Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 của Phan Đình Giót triển khai đội hình chiến đấu từ 15 giờ. Anh em truyền tay nhau đọc thư Bác Hồ và lệnh động viên của Đại tướng Tổng tư lệnh. Đến giờ pháo bắn, anh em rút ra khỏi rừng. Cùng với sự chi viện của pháo binh, pháo cao xạ ta lần đầu xuất trận đã tạo nên không khí hào hùng chưa từng có kể từ ngày thành lập Quân đội.
Các chiến sĩ Đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín và bị thương ở đùi, nhưng anh vẫn xung phong đánh quả tiếp theo. Quân Pháp tập trung hỏa lực trút đạn như mưa xuống trận địa, bộ đội ta bị thương rất nhiều.
Lúc này Phan Đình Giót thay mặt cán bộ chỉ huy trung đội ở cánh giữa. Thấy hỏa điểm địch bắn chặn đồng đội, Phan Đình Giót dùng quả lựu đạn cuối cùng đánh hỏa điểm. Địch ngừng bắn. Xung kích ta tiến lên thì hỏa điểm lại khôi phục. Giót dùng tiểu liên đưa vào trong lô cốt bắn một băng. Lúc này Phan Đình Giót bị thương lần thứ ba vào vai, máu chảy đầm đìa, ngất đi. Lúc tỉnh dậy, thấy đồng đội bị chặn lại bởi một hỏa điểm đột nhiên xuất hiện. Hai chiến sĩ đặt trung liên tìm cách dập tắt hỏa điểm nhưng bị địch bắn bị thương. Tình hình lúc này thật căng thẳng, hỏa điểm của địch chưa bị dập tắt thì máu của đồng đội còn phải đổ. Cán bộ trung đội bị thương vong hết, Phan Đình Giót tự đảm nhiệm vai trò chỉ huy trung đội. Các chiến sĩ vẫn thay nhau xông lên tìm cách diệt hỏa điểm nhưng đều hy sinh, hỏa điểm địch từ lô cốt vẫn bắn mạnh vào bộ đội ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại. Phan Đình Giót nhìn trừng trừng vào hỏa điểm địch rồi anh ép người sát mặt đất, bò nhích lên từng tý, thận trọng gần đến lỗ châu mai, với ý nghĩ cháy bỏng, duy nhất là phải dập tắt ngay nó. Anh nâng khẩu tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai. Hết đạn, anh thay băng khác tiếp tục bắn. Nhưng khi xung kích xung phong lên thì hỏa điểm địch vẫn bắn ra ác liệt. Mọi người thấy anh đứng lên ngồi xuống bên lỗ châu mai địch.
Anh đã dùng hết sức còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai và hét to: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân”, rồi rướn người, lấy đà, tay bám chặt vào những thân cây gỗ phía trên lỗ châu mai rồi xoay người thật nhanh lại, áp lồng ngực vào lỗ châu mai địch. Hỏa điểm lợi hại nhất của quân Pháp bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phan Đình Giót hy sinh lúc 22 giờ 30 phút ngày 13-3-1954. Phan Đình Giót được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 31-3-1955.
Khi hy sinh, anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Huân chương Quân công hạng Nhì.



