CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA BÁC KIỀU CHÍ THÔNG

Trong kháng chiến chống Mỹ, theo những gì bác đã trải qua và chứng kiến, thì khốc liệt nhất là hai giai đoạn, đó là năm 1968 và năm 1972. Nhắc lại hai năm ấy, Bác vẫn còn nhớ rất rõ, vì đó là những năm mà con người sống giữa ranh giới của sự sống và cái chết.
Năm 1968 những ngày không thể quên của Bác
Năm 1968, bộ đội ta kết hợp chặt chẽ với nhân dân, với lực lượng biệt động xung kích, cùng với cán bộ đặc vùng hoạt động sâu trong miền Nam, đặc biệt là ở các thành phố lớn trong Nam. Khi đó, không chỉ bộ đội ngoài chiến trường, mà ngay trong lòng địch, từ Sài Gòn cho tới các đô thị khác, anh em đều đồng loạt đứng lên, vừa chiến đấu, vừa dẫn dắt lực lượng, tạo thành một phong trào rộng khắp.
Trận đánh lúc ấy rất dữ dội. Địch phản kích mạnh, bom đạn nhiều, sự đàn áp rất khốc liệt. Hi sinh năm đó nhiều lắm. Gần như lực lượng biệt động xung kích hi sinh gần hết, rồi gia đình cách mạng, những người che chở, nuôi giấu cán bộ cũng ngã xuống rất nhiều. Có những gia đình cả nhà đều hi sinh, có những cơ sở bị xóa sổ hoàn toàn.
Nhưng dù mất mát lớn đến đâu, thì tinh thần chiến đấu của anh em vẫn rất dũng cảm. Không ai nghĩ đến chuyện lùi bước. Ai cũng xác định rõ: đã đi theo cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh. Còn sống là còn chiến đấu, còn người thì còn phong trào.
Sau năm 1968, lực lượng ta bị tổn thất nặng, nhưng cách mạng không hề bị dập tắt. Các cơ sở mới lại được gây dựng lại từ đầu, hoạt động trở lại, nhưng bí mật hơn, thận trọng hơn. Anh em tiếp tục bám dân, bám đất, âm thầm phá hoại, giữ vững phong trào, chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Đó chính là những trận đánh mở đầu, tạo nền tảng cho những bước tiến sau này của quân đội ta.
Năm 1972 – Mùa hè đỏ lửa .
Sau đó là năm 1972, người ta thường gọi là “mùa hè năm bảy hai”. Đây là một trong những giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến. Trận đánh rất lớn, quy mô rộng, kéo dài và vô cùng khốc liệt.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Bác vẫn thường nói với các cháu rằng: chính những trận đánh năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải rút quân. Khi đó, chiến trường Quảng Trị trở thành điểm nóng nhất. Hai bên đều đưa vào những lực lượng tinh nhuệ nhất, đánh nhau từng mét đất, từng công sự.
Bom rơi ngày đêm, pháo nổ liên hồi. Đất đá bị cày xới, nhiều nơi không còn phân biệt được đâu là làng mạc, đâu là chiến hào. Bộ đội mình vừa đánh, vừa giữ trận địa, vừa chịu đựng mưa bom bão đạn. Gian khổ, hi sinh nhiều, nhưng ý chí thì không bao giờ lung lay.
Thời hoa lửa không thể nào quên
Hai giai đoạn ấy – 1968 và 1972 – theo bác, chính là những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến. Đó là thời hoa lửa, thời của bom đạn, hi sinh và mất mát, nhưng cũng là thời của lòng yêu nước, của niềm tin và sự kiên cường.
Bây giờ chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ký ức của bác, những năm tháng ấy vẫn còn nguyên vẹn. Bác nhớ đồng đội đã ngã xuống, nhớ những gia đình cách mạng âm thầm hi sinh, nhớ những ngày sống trong lửa đạn mà vẫn tin chắc một điều: đất nước nhất định sẽ thắng lợi.
Đó là thời hoa lửa của đời bác, gian khổ nhất, nhưng cũng là quãng đời đáng tự hào nhất.



