Câu chuyện thời hoa lửa của ông Nguyễn Văn Cư
sinh năm 1941, giữa một miền quê còn nghèo nhưng nặng nghĩa tình. Lớn lên trong tiếng súng xa xa của chiến tranh và những câu chuyện về lòng yêu nước từ cha anh, tôi biết rồi cũng sẽ có ngày mình phải bước vào cuộc chiến giữ nước như bao người Việt Nam khác.

Câu chuyện thời hoa lửa của ông Nguyễn Văn Cư
sinh năm 1941, giữa một miền quê còn nghèo nhưng nặng nghĩa tình. Lớn lên trong tiếng súng xa xa của chiến tranh và những câu chuyện về lòng yêu nước từ cha anh, tôi biết rồi cũng sẽ có ngày mình phải bước vào cuộc chiến giữ nước như bao người Việt Nam khác. Năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, tôi chính thức tham gia lực lượng cách mạng. Ngày rời quê, mẹ chỉ nắm tay tôi thật chặt: “Con đi rồi nhớ giữ mình. Mất mát thì ai cũng sợ, nhưng nước mất thì còn ai mà sống con ơi.” Lời ấy theo tôi suốt những năm tháng sau này. Nhờ tinh thần làm việc và sự tin tưởng của đồng chí, năm 1970 tôi được giao nhiệm vụ trong Thường vụ Tỉnh ủy. Công việc nhiều áp lực, đêm ngủ không yên, ngày họp bàn chiến lược, đêm bàn kế hoạch hỗ trợ lực lượng chiến đấu. Có những quyết định phải đưa ra chỉ trong vài phút, và đôi khi là quyết định giữa sự sống và cái chết của đồng đội. Nhưng tôi hiểu: mỗi nhiệm vụ là một phần trong con đường dẫn đất nước đến hòa bình.Cũng trong năm ấy, tôi được điều về Đoàn Biên phòng Nhà Mát. Vùng đất biển gió thổi rát mặt, sương mặn phủ áo, nhưng kỷ luật và tinh thần anh em biên phòng lúc nào cũng vững vàng. Chúng tôi canh giữ từng con nước, từng mạch rừng đước, bảo vệ tuyến ven biển nơi địch thường đổ bộ. Những đêm mật phục, muỗi nhiều như khói, áo ướt đẫm vì sương, nhưng không ai lùi bước.Hai năm sau, tôi được phân công giữ nhiệm vụ tại Công an biên phòng xã Mỹ Long. Đây là thời đoạn khó quên nhất. Mỹ Long khi ấy là vùng trọng điểm, nơi địch thường xuyên phục kích và phá hoại. Anh em chúng tôi phải bám dân, bám đất, vừa bảo vệ an ninh địa phương, vừa hỗ trợ hoạt động cách mạng. Tôi nhớ như in những lần cùng đồng đội men theo con kênh nhỏ giữa rừng dừa nước, nghe tiếng động lạ là phải nín thở, tay đặt lên cò súng. Nhiều trận đánh nổ ra trong gang tấc – có đồng chí không bao giờ trở về.Chiến tranh rồi cũng qua. Tôi may mắn còn sống để trở về quê hương, để kể lại những năm tháng mà tuổi trẻ của mình đã gửi trọn cho độc lập dân tộc. Được trao Huân chương Kháng chiến hạng II, tôi xem đó không chỉ là phần thưởng cho bản thân, mà là sự ghi nhận cho cả những đồng đội đã nằm lại trong rừng, trên biển, trên những cánh đồng đầy bom đạn.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.



