Bài viết

Câu chuyện thời hoa lửa - Cựu thanh niên xung phong Đỗ Quốc Phong

Từ một chàng trai Hà Nội mơ đại học, Đỗ Quốc Phong đã gác bút nghiên, tham gia Đội Thanh niên xung phong K53 năm 1965. Ông chọn nhiệm vụ nguy hiểm nhất: lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng – thượng nguồn sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Hàng chục chuyến đò mỗi đêm chở bộ đội và đạn dược giữa mưa bom B-52, ông chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Sự hy sinh thầm lặng của ông và đồng đội đã góp phần mở thông hành lang huyết mạch Bắc – Nam.

Gia Lai18/04/2026Liên Chi đoàn Khoa Lý luận chính trị - Luật và Quản lý nhà nước (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, Đỗ Quốc Phong từng là học sinh trường Ứng Hòa. Năm 1965, sau khi tốt nghiệp cấp 3, ông từ bỏ giấc mơ vào Đại học Sư phạm để lên đường vào Nam. Hành trang chỉ là nhiệt huyết tuổi trẻ và lòng căm thù giặc sau khi chứng kiến bom Mỹ tàn sát trẻ em Hà Tĩnh.

Ông được phân công làm trinh sát, bảo vệ hành lang giao thông đường 9, Trị Thiên – Huế. Nhiệm vụ đặc biệt nhất là lái đò trên sông Ba Lòng – nơi bom đạn dày đặc nhất. Cùng du kích địa phương, ông đốn cây rừng, khoét đò độc mộc dài 8-10 mét trong hơn hai tháng. Mỗi đêm từ 5 giờ chiều đến 3-4 giờ sáng, ông chèo ngược dòng nước xiết, chở một trung đội bộ đội và đạn dược qua sông.

Bom B-52, pháo sáng, đá ngầm… luôn rình rập. Có đêm, ông chứng kiến quả bom rơi trúng hầm trú ẩn, đồng đội hy sinh ngay trước mắt. Thi thể không nguyên vẹn, máu hòa lẫn nước sông khiến ông đau xót nhưng càng thêm quyết tâm “trả thù cho anh em”. Nhiều lần chết hụt, ông vẫn bình tĩnh lợi dụng bóng tối, dòng chảy để ngụy trang. Ông từng chèo đò đưa Chính ủy Trung đoàn 9 (sau là Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu) qua sông an toàn và nhận lời động viên từ vị chỉ huy.

Với tinh thần “sống bám sông, chết cũng bám sông”, ông và đồng đội đã mở thông tuyến máu Bắc – Nam. Sau chiến tranh, ông trở về học tập, công tác trong ngành giáo dục và giữ chức Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong TP. Hà Nội nhiều năm. Hàng loạt huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Chiến sĩ giải phóng, Kháng chiến… là minh chứng cho một đời hy sinh thầm lặng. Ông tâm sự: “Mình còn sống trở về là may mắn hơn hàng vạn đồng đội. Phải sống sao cho xứng đáng với họ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn