Bài viết

Câu chuyện thời hoa lửa - Đỗ Quốc Phong

Gia Lai26/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐƠN VỊ: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn

Tên tiêu đề: Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng

Trong căn nhà nhỏ yên bình giữa lòng Hà Nội, ông Đỗ Quốc Phong, nguyên Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong TP.Hà Nội, chậm rãi lật giở từng trang ký ức.

Mái tóc đã bạc màu thời gian, nhưng khi nhắc về những năm tháng tuổi 20, đôi mắt ông vẫn rực lên ngọn lửa của một thời "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Đó là câu chuyện về chàng thư sinh Hà thành xếp bút nghiên lên đường, trở thành người lái đò cảm tử trên dòng sông Ba Lòng huyền thoại.

Câu chuyện được chia sẻ từ chị Vũ Thơ

Năm 1965, chàng thanh niên Đỗ Quốc Phong tốt nghiệp cấp 3 tại Trường Ứng Hòa (Vân Đình, Hà Tây cũ; nay là Hà Nội). Thời ấy, tốt nghiệp phổ thông là cả một gia tài tri thức, cánh cửa Đại học Sư phạm đang rộng mở chào đón nhưng giữa lúc tiếng súng vọng về từ miền Nam ruột thịt, tiếng gọi của non sông đã thôi thúc những chàng trai mười tám, đôi mươi gác lại giấc mơ đèn sách.

Ngày 13.7.1965, Đỗ Quốc Phong tham gia Đội thanh niên xung phong (TNXP) K53, đơn vị đặc biệt và duy nhất của Đoàn thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam. Ông mang theo hành trang là nhiệt huyết của tuổi trẻ và tâm hồn lãng mạn của người trai Hà Nội. "Lúc đầu đi thì cũng chưa căm thù giặc sâu sắc đâu, chỉ biết yêu nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng thì đi thôi", ông Phong nhớ lại. Đơn vị của ông được huấn luyện tại Trường Đoàn (Cầu Giấy, Hà Nội).

Bước ngoặt thực sự khiến ý chí của ông "hóa thép" là khi đặt chân đến Hà Tĩnh. Tại đây, ông tận mắt chứng kiến cảnh máy bay đối phương ném bom vào một trường mẫu giáo. Hình ảnh những đứa trẻ vô tội ngã xuống, máu nhuộm đỏ trang sách và sân trường đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn tột độ. "Tự nhiên mình nghĩ, trẻ con thế này mà nó cũng giết. Lúc ấy lòng căm thù mới thực sự trỗi dậy, biến thành quyết tâm sắt đá: phải đi, phải chiến đấu để bảo vệ đồng bào mình", ông Phong xúc động kể

Sau hành trình dài vào Đò Lèn (Thanh Hóa) rồi hành quân bộ dọc theo dải đất miền Trung, đơn vị của ông Phong đóng tại phân khu Trị Thiên-Huế. Tại đây, ông xung phong làm trinh sát và bảo vệ hành lang giao thông tại khu vực đường 9. Nhiệm vụ đặc biệt và sâu đậm nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông chính là thời gian lái đò trên sông Ba Lòng - dòng thượng nguồn của sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Đây là điểm nút giao thông huyết mạch để vận chuyển quân, lương thực và đạn dược từ Bắc vào Nam và cũng là nơi bị tập trung đánh phá ác liệt nhất

Hàng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ đã vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đáy sông đầy đá ngầm. Quân đông, hàng nhiều mà thuyền độc mộc thì bé, nên ông Phong báo cáo lãnh đạo và phối hợp với du kích địa phương tổ chức lên rừng đốn cây, làm một con đò lớn. Việc làm đò vô cùng gian nan, phải vừa dùng rìu khoét rỗng ruột rồi dùng lửa đốt để tạo hình. Mất hơn 2 tháng trời ròng rã, một con đò mới thành hình, dài chừng 8 - 10 m, đủ sức chở một trung đội khoảng 30 người. Ông Phong nhớ lại: "Học chèo đò độc mộc khó lắm. Đứng trên đó nó tròng trành, không cẩn thận là lật ngay. Chúng tôi phải học cách đứng chéo chân, tay trái dùng sào chống, tay phải dùng mái chèo quạt nước. Phải tập cả tháng trời mới dám chở quân".

Công việc bắt đầu khi màn đêm dần buông xuống, khoảng 5 giờ chiều đến 3 - 4 giờ sáng hôm sau. Dòng sông Ba Lòng về đêm là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trên trời, máy bay trinh sát và B52 của Mỹ quần thảo liên tục. Dưới sông, dòng nước chảy xiết và đầy rẫy đá ngầm.

"Mỗi đêm chèo không biết bao nhiêu chuyến. Có những hôm chở quân vào, rồi lại chở thương binh ra. Máu và nước mắt hòa vào dòng sông lạnh buốt", ông kể. Kỹ thuật chèo đò thời chiến cũng là một nghệ thuật sinh tử. Khi máy bay đối phương thả pháo sáng, cả người và đò phải bất động, lợi dụng bóng tối và dòng chảy để ngụy trang. Chỉ cần một tiếng động mạnh, hay một ánh lửa lóe lên, bom đạn sẽ trút xuống ngay lập tức.

Sự khốc liệt của chiến trường không chỉ nằm ở bom đạn mà còn ở sự bào mòn thể xác đến cùng cực. Ông Phong kể có những đêm gồng mình chèo chống ngược dòng nước lũ, đưa bộ đội qua sông an toàn. Cường độ làm việc quá lớn, ăn uống kham khổ thiếu thốn, khiến ông và nhiều đồng đội kiệt sức.

Kỷ niệm đau thương nhất là lần chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt. Một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn của đơn vị, các đồng đội hy sinh tại chỗ, thi thể không còn nguyên vẹn. "Lúc ấy không còn biết sợ là gì nữa, chỉ thấy đau xót và càng thêm quyết tâm trả thù cho anh em", ông Phong nói. Trong những năm tháng khốc liệt ấy, ông cũng nhiều lần chết hụt nhưng may mắn thoát nạn do bom đạn "tránh" ông.

Những câu chuyện của ông Đỗ Quốc Phong không chỉ là hồi ức của một cá nhân, mà là lát cắt chân thực về một thế hệ thanh niên Hà Nội hào hoa mà anh dũng. Họ gác lại giấc mơ đèn sách, hiến dâng tuổi thanh xuân đẹp nhất cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hình ảnh người lính trẻ Đỗ Quốc Phong chèo chiếc thuyền độc mộc giữa mưa bom bão đạn trên dòng sông Ba Lòng vẫn mãi là biểu tượng đẹp đẽ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là minh chứng sống động cho câu thơ: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai".

Cuộc đời ông và những đồng đội của ông, chính là những bông hoa lửa rực rỡ nhất, nở giữa chiến trường khốc liệt để mang về mùa xuân cho đất nước hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện thời hoa lửa - Đỗ Quốc Phong | Câu chuyện thời hoa lửa