Câu Chuyên Thời Hoa Lửa - "Mưa Đỏ”
Mưa đỏ là tiểu thuyết chiến tranh tiêu biểu của Chu Lai, xuất bản năm 2016, lấy bối cảnh 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972. Đây là tác phẩm thứ 14 và có thể xem là đỉnh cao sử thi của ông về đề tài này. Chu Lai đã dành hàng năm trời đi thực tế, phỏng vấn nhân chứng và trải nghiệm để tái hiện không khí cuộc chiến. Sau khi được chuyển thể thành phim điện ảnh, Mưa đỏ nhanh chóng trở thành một “hiện tượng phòng vé”, thôi thúc khán giả tìm đọc tiểu thuyết gốc.
Mưa đỏ được xem như một kiệt tác trong hành trình văn chương của Chu Lai, kết tinh từ những trải nghiệm sống động và ký ức khó phai mờ. Tác phẩm không đơn thuần là một cuốn sách, mà còn là sự tri ân sâu sắc, một nén hương tưởng nhớ mà tác giả dành cho những người đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đầy khắc nghiệt. Nội dung truyện xoay quanh hai bên chiến tuyến, tập trung chính vào tiểu đội bộ đội giải phóng gồm 7 người, mỗi người một tính cách và hoàn cảnh: Đội trưởng Tạ, Cường (sinh viên nhạc viện Hà Nội), Sen (người lính lớn tuổi gốc Sài Gòn), Bình vẩu (sinh viên mỹ thuật Đông Hà), Hải gù (công nhân Hà Tây), Tú và Tấn (hai chiến sĩ mới 17 và 14 tuổi). Hai nhân vật trung tâm đầu tiên là Cường – đại diện cho hình tượng người lính nghệ sĩ, mang đậm vẻ đẹp lý tưởng, bước vào chiến tranh với lý tưởng riêng, đối mặt vô vàn mất mát và cuối cùng hy sinh cùng đồng đội. Một nhân vật không kém phần quan trọng là Quang, là chỉ huy lực lượng Hắc Báo của Việt Nam Cộng hòa, phía bên kia chiến tuyến – với vóc dáng vừa hung bạo vừa nhân văn, để thấy chiến tranh là bi kịch chung cho mọi con người.
Điểm nhấn lớn của Mưa đỏ là không tô vẽ, lý tưởng hóa một phía mà khai thác chiều sâu tâm lý, thân phận con người; kết truyện là hình ảnh hai bà mẹ ở hai miền viếng mộ con, tượng trưng cho khát vọng hàn gắn và khép lại quá khứ đau thương của dân tộc. Tác phẩm đậm chất thơ, dữ dội và ám ảnh với những ẩn dụ như “Trời vẫn đổ mưa. Những hạt mưa đang biến thành màu đỏ. Mưa đỏ. Mưa máu”.
Nỗi đau của sinh - ly - tử - biệt
“Ám ảnh. Trong mọi sự ám ảnh thì cái ám ảnh về chiến tranh có lẽ là sự ám ảnh ghê gớm nhất. Một nỗi ám ảnh màu xám, hút hoẳm, khắc khoải, giày vò, giằng xé, vỡ vụn chắc còn lâu lắm mới có thể nguôi ngoai, vơi nhẹ đi được phần nào trên mảnh đất này, trong tâm hồn người dân nơi đây.
Dòng Thạch Hãn dưới kia đang êm đềm trôi chảy trong sắc nước trong xanh đến vô cùng vô cảm. Như thể ngàn năm nay nó vẫn trong xanh, êm đềm như thế mà chưa hề có những ngày phải trải qua sự quặn mình rớm máu khi phải vật vã, tức tưởi thu nhận vào lòng mình hàng chục ngàn, trăm ngàn những thân thể sinh linh bầm nát.”
Mưa đỏ là một cuốn sách kén người đọc, bởi Chu Lai không ngần ngại phơi bày những gì khốc liệt nhất mà bom đạn chiến tranh có thể gây nên cho người lính và toàn bộ ngoài dân vô tội: Những cái chết tức tưởi, những thân thể không còn nguyên vẹn, những nỗi đau cả về thể xác lẫn tinh thần. Nỗi ám ảnh ấy có thể đeo bám con người và vùng đất Quảng Trị cho đến mãi về sau. Chu Lai cho thấy chiến tranh không phải là một trò chơi anh hùng, mà đơn thuần là một sự hủy diệt tàn bạo...Những người mẹ xa con, những người vợ phải xa chồng, còn sự sống cũng dần rời xa số phận con người ở nơi “cối xay thịt” Thành cổ.
“Pháo vẫn nổ cấp tập. Tiếng đạn rít trong thinh không sẵng sặc như tiếng cười của quỷ. Trong dòng di tản hỗn loạn đã có thân người, nhóm người tung lên, quật xuống. Tiếng kêu khóc, tiếng rên ri, giãy giụa, quăn quại, máu chảy thành vũng thành vệt, láng nhấy mặt đường. Lại một chiếc xe đò bốc lửa, nổ tung. Chiếc xe đò nữa, mảnh vỡ bay lên như xác pháo hồng. Một người đàn ông cháy đen như khúc củi bên đường, nước dịch rỉ ra làm dính nhớp cả những bấy ruồi đang sà xuống. Một đứa trẻ bung hết quần áo chạy như hóa dại gào thét gọi mẹ. Một người mẹ trẻ nằm chết vùi trong vệ cỏ để lộ những mảng trắng xanh xao trên da thịt. Đứa bé sơ sinh nằm cạnh không hay, cứ mãi rúc đôi môi nhỏ xíu vào khuôn ngực bết máu của người mẹ mà bú...”
Những câu văn ngắn miêu tả cuộc chiến với nhịp điệu gấp gáp tựa tiếng đạn bắn liên thanh của ông có khả năng dựng lên một bầu không khí ngột ngạt và căng thẳng đến cực điểm. Cuộc đối đầu không chỉ diễn ra trên mặt trận Thành cổ khói lửa mà còn được khắc họa song song với bối cảnh căng thẳng trên bàn đàm phán Hiệp định Paris. Tại đây, mẹ của nhân vật Cường, đồng thời là một nhà ngoại giao sắc sảo đang đấu trí cân não để giành giật lại nền hòa bình cho dân tộc, và cũng là giành lại sự sống cho con trai. Sự đan cài khéo léo giữa chiến trường và chính trường cho thấy sự gắn kết máu thịt giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa sự hy sinh của người lính và vận mệnh của cả dân tộc.
“Lạ quá! Dù ở hai chiến tuyến khác nhau, hầm hè sát hại nhau nhưng nếu phải ngã vào lòng đất thì câuthì câu cuối cùng của cả hai bên bao giờ cũng là hai tiếng “Mẹ ơi!...” thì câu cuối cùng của cả hai bên bao giờ cũng là hai tiếng “Mẹ ơi!...” Mẹ ơi... Chẳng may nếu con cũng như vậy thì không hiểu mẹ sẽ ra sao? Bỗng hiểu ra, chiến tranh bọn con khổ một thì những người mẹ ở hậu phương sẽ khổ hàng trăm lần, ngàn lần hơn. Nỗi khổ của sự chờ đợi đêm đêm tựa cửa mà đâu có hay rằng đứa con rứt ruột của mình đẻ ra sẽ không bao giờ trở về nữa khi xương cốt đã tan biến dưới vòng xích vô cảm của kẻ thù!”
Chiến tranh không chỉ hủy diệt tính mạng con người, mà còn gây ra những vết thương tâm lý chẳng bao giờ lành cho những người lính trên chiến trận, đặc biệt là những thanh thiếu niên còn quá trẻ. Cường đã gác lại ước mơ nghệ thuật dang dở và lên đường nhập ngũ theo Lệnh Tổng động viên cả nước ra trận, chiến đấu vì lý tưởng của thời đại. Những thanh thiếu niên mới chỉ ở độ tuổi lẽ ra được hồn nhiên cắp sách tới trường như Tú và Tấn, giờ đây cũng phải cầm súng bước vào chiến trận. Bom đạn gián tiếp dập tắt đi ước mơ, hoài bão còn chưa kịp thành hình của họ bằng cách bắt họ chứng kiến những người anh em, đồng đội ra đi ngay trước mắt, cái chết sẽ luôn rình rập mọi lúc mọi nơi, không ai có thể trốn tránh.
“Mỗi ngày hy sinh một đại đội đủ! Đại đội đủ là bao nhiêu mẹ biết không? Nhiều lắm mẹ ạ! Bạn bè đi gần hết rồi, chắc chắn rồi cũng sẽ đến lượt con, chỉ chưa thật biết con mụ thần Chết hôi hám đó lúc nào sẽ thè cái lưỡi đỏ loét ấy liếm vào con... Chết con không sợ, nhưng phải chứng kiến đôi mắt mở to ngơ ngác của Tú, một cậu bé chưa tròn mười bảy tuổi chìm dần vào lòng nước đỏ quạch là đầu óc con cứ ong ong lên.”
Chu Lai không lý tưởng hóa các nhân vật chiến sĩ giống với những người anh hùng trong cổ tích hay truyền thuyết. Ông phác họa họ với tất cả những phẩm chất tự nhiên nhất của một con người bình thường: có lúc can trường, quả cảm, nhưng cũng có khi hoảng sợ, mềm yếu và những khoảnh khắc chùn bước đến mức muốn bỏ cuộc. Họ nhớ về gia đình, khao khát một giấc ngủ bình yên, và khát khao được sống tiếp với những giấc mơ dang dở. Chính những khoảnh khắc đời thường chân thật này đã làm cho các nhân vật trở nên gần gũi hơn với người đọc và gây xúc động mạnh khi họ bị đặt trong hoàn cảnh cái chết có thể đến bất cứ lúc nào.
Nỗi đau của một đất nước bị chia cắt
Tiểu thuyết Mưa đỏ được nhà văn Chu Lai xây dựng từ từng mảnh vụn nát của 81 ngày đêm chiến đấu tại thành cổ Quảng Trị, dưới góc nhìn chủ đạo của hai người lính, hai tư tưởng, hai chiến tuyến. Cường đại diện cho quân giải phóng, ngược lại, Quang đại diện cho quân đội của Việt Nam Cộng hòa. Cả hai người lính đều đã chiến đấu, bám trụ và hy sinh vào những ngày cuối cùng của chiến dịch Thành Cổ Quảng Trị, họ hi sinh vì lý tưởng của riêng mình. Góc nhìn đa chiều đó đã mang lại một bức tranh toàn cảnh để cho thấy bánh xe lịch sử đã lăn theo một con đường tất yếu với tất cả động lực đầy đau thương và nghiệt ngã, nghiến qua và để lại vết thương cho tất cả những con người, phe phái đã tham gia vào lát cắt ấy. Đôi khi, tác giả đặt người đọc vào một góc nhìn trung lập thông qua những suy nghĩ của nhân vật Cường, để anh nhìn sâu vào nơi những người lính Ngụy đã ngã xuống. Anh thấy dòng máu túa ra, nghe thấy những lời ai oán, để đau đớn nhận ra bản thân đang tự tay giết chính những người đồng bào của mình, những người con cùng mang trong mình dòng máu đỏ da vàng, chỉ vì bị cuốn vào vòng xoáy chính trị, bị thao túng bởi sức mạnh của đế quốc Mỹ mà phải cầm súng giết hại lẫn nhau.
“Khi còn sống, bố đã có lần nói với con, không ai sinh ra đã là anh hùng phải không mẹ? Anh hùng cũng sợ chết, thậm chí là sợ chết nhất, nhưng nếu biết vượt qua được nỗi sợ chết thì là anh hùng. Và không ai sinh ra đã muốn mình thành một đao phủ nhưng có những hoàn cảnh không thể không biến mình thành một người như thế. Trận đánh giáp lá cà trưa nay của chúng con xét về một góc độ nào đó cũng là anh hùng. Anh hùng hay đao phủ thì con chưa đủ thời gian để nhận biết nhưng rõ ràng có những điều còn cao hơn cả những danh từ này, như lòng tự trọng, như sự hận thù cái ác chẳng hạn. Cái ác ở đây, mẹ ơi, chúng con lại không đổ tại tất cả cho những người lính dù phía bên kia, mà chính là những kẻ ngoại quốc đứng đằng sau họ, đang biến họ thành những vật thế mạng cho các chủ thuyết phi nhân đã đè nặng lên đất nước mình mấy chục năm qua. Pháo từ Cửa Việt lại bay vào trận địa, bay xuống sông, rồi lại bao người tử tế, lương thiện phải rời bỏ sự sống? Pháo của họ đấy, những kẻ ở cách nửa vòng trái đất không hiểu nguyên cớ gì mà bỗng dưng nhảy vào can thiệp một cách ngang nhiên và ngụy tạo là ngăn chặn một làn sóng Đỏ như thế...”
Chu Lai đã phá vỡ lối mòn của văn học thời kỳ trước với sự phân định rạch ròi “ta – địch”. Trong thế giới của ông, không có ai là thánh nhân và cũng chẳng có ai là ác quỷ thuần túy. Mỗi nhân vật đều là một vũ trụ phức tạp với những giằng xé, những khao khát và những bi kịch riêng. Nhà văn đã dành một dung lượng đáng kể để khắc họa Quang, viên trung úy của quân đoàn Hắc Báo. Ban đầu, Quang hiện lên là một đối thủ tàn bạo, đáng gờm. Nhưng đằng sau vẻ ngoài đó là một con người cũng có những nỗi niềm, những day dứt và những khoảnh khắc của tính người, biểu hiện ở việc gã rung động trước tính cách, hành động quả cảm của Hồng, dẫn đến việc hắn bí mật cứu mạng cô khi cô bị quân Việt Nam Cộng hòa bắt đi. Hay khi hắn thầm cảm phục khi chứng kiến Cường dũng cảm tha mạng cho những đối thủ của mình. Việc xây dựng một nhân vật “phía bên kia” có chiều sâu như vậy là một bước tiến lớn, thể hiện cái nhìn khách quan và nhân đạo của tác giả dành cho quân đội Việt Nam Cộng hòa.
“Trước đây đối với hắn, người lính phía bên kia luôn luôn, mãi mãi chỉ là một đám mọi rợ, chém vè nằm bụi, ăn lông ở lỗ, rách rưới bẩn thỉu được huấn luyện đâm chém như một bầy quỷ cuồng tín lao từ trong rừng ra và hắn cùng đồng đội của hắn có nhiệm vụ làm sạch. Vậy mà con người ấy, cái thằng nói giọng Bắc ấy rõ ràng có cái gì ngược lại. Không tìm thấy sự khát máu vằn lên trong ánh mắt vừa kiên nghị vừa buồn phiền như đôi mắt của một thằng tướng cướp khét tiếng đã ra tay giết cả ba mạng người mà chính hắn đã là kẻ đánh gục nó giữa chợ Đông Ba hôm nào. Ở vào trường hợp hắn, liệu hắn có đủ nhân đạo để tha cho một thằng vừa chơi một đường lê tứa máu vào thân thể mình không? Không! Chắc là không rồi. Thế thì cái gì đã khiến cho cái thằng người ở trần, quần cộc, râu ria ấy có được sự hành xử vượt ra ngoài bản năng hoang thú đó? Một chút tò mò và vì nể vẩn lên trong cái đầu đặc sệt những suy tưởng cực đoan và miệt thị đối phương của hắn.”
Điều đó cho thấy rằng trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn này, tất cả đều là nạn nhân. Họ đều là những người con của đất Việt, chỉ vì bị cuốn vào vòng xoáy chính trị, sự thao túng của đế quốc Mỹ mà buộc bị đẩy về hai phía, buộc phải chĩa súng vào nhau. Nỗi day dứt của Quang là một phần của nỗi đau chung của cả dân tộc, là đại diện cho sự chia cắt hai dân tộc chảy chung một dòng máu.
Sức mạnh của tình yêu và hi vọng vượt trên cả mưa bom bão đạn
Giữa nền mưa bom bão đạn, những giá trị nhân văn lại càng tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Đầu tiên phải kể đến là tình đồng đội thiêng liêng, những người lính khác xuất thân, tuổi tác cho đến tính cách, nhưng tất cả đều có chung một lý tưởng mà gặp được nhau tại trận chiến. Họ đùm bọc lấy nhau, sẵn sàng chia nhau từng ngụm nước, từng mẩu lương khô, sẵn sàng lấy thân mình che chắn cho bạn trước làn bom đạn.
“Anh Tạ, người anh đáng kính của chúng con đi rồi, đi lặng lẽ, đi thanh thản như đã biết trước giờ khắc ra đi của mình, điều mà lâu nay con chỉ coi là hoang tưởng, là sản phẩm của một bộ óc mê mụ. Sự ra đi của anh ấy để lại cho chúng con một khoảng trống ghê gớm quá, đến nỗi chúng con phải nghĩ rằng, chính tình nghĩa tử sinh đồng đội, những ký ức sâu sắc nằm gai nếm mật đã kết dính chúng con lại, đã hà hơi tiếp sức để cho chúng con biết vượt lên tất cả để đứng vững chứ chưa hẳn đã là những gì thuộc về lý tưởng, hoài bão hay mục đích chính trị xa xôi nào.”
Bên cạnh đó, một điểm sáng làm dịu đi sự khốc liệt còn là tình yêu đôi lứa. Đó là tình cảm của Tạ dành cho vợ và con, là động lực giúp gã chiến đấu bằng toàn bộ ý chí tới hơi thở cuối cùng. Đó là mối tình trong veo mà chóng vánh giữa Cường và cô y tá mặt trận tên Hồng. Tình yêu của họ nảy nở giữa cái chết, mong manh như một đóa hoa dại nhưng lại mãnh liệt vô cùng. Tình yêu ấy là biểu tượng cho khát vọng sống, khát vọng yêu thương, là điểm tựa tinh thần quý giá giúp người lính vượt qua thực tại tàn khốc.
“Thế là một lần nữa, cái chết nó lại chừa con mẹ ạ! Cuộc đời lạ thật, con đã không chết mà cuộc chiến một mất một còn nó lại hào phóng ban tặng cho con tình yêu của một người con gái Quảng Trị!
Không hiểu có phải do chiến tranh hay vùng đất khắc nghiệt tự ngàn năm này đã tạo nên một tính cách, một tâm tình con gái mặn mòi, sâu xa, tinh tế, nồng nàn và dịu dàng, dâng hiến đến thế mẹ ơi! Con có cảm giác như tất cả đức tính tốt đẹp của các cô gái trên trái đất này đã hội tụ vào một mình em! Chắc mẹ lại cười mà bảo rằng thằng bé Cường hay đa sầu đa cảm ngày nào lại ngoa ngôn rồi. Nhưng đúng vậy đấy, mẹ! Có cô ấy, cuộc chiến đấu bỗng trở nên có ý nghĩa biết chừng nào. Cái lẽ cầm súng này trước hết là vì em, là cầu mong cho em được sống, là mau chóng được gặp lại em, hôn em, nói với em tất cả những gì chưa kịp nói,...”
Thậm chí, tình yêu còn nảy nở giữa hai bờ chiến tuyến, giữa Quang và Hồng. Tình cảm ấy vượt qua làn mưa bom bão đạt, vượt cả ranh giới đạo đức, khiến Quang nhiều lần tha mạng cho Hồng, thậm chí nảy sinh lòng ngưỡng mộ dành cho cô và tinh thần chiến đấu của người lính mặt trận giải phóng. Tình yêu đã phần nào đó thức tỉnh phần người của Quang tưởng chừng đã bị ăn mòn, tha hóa bởi tư tưởng phản động.
“Kẻ thù! Cô gái với đôi mắt mở to không biết sợ hãi kia là kẻ thù của hắn ư? Hắn không tin nhưng lại buộc phải tin theo một định đề chính trị đã ăn khá sâu vào người. Chao ôi, giá như giờ đây không có chiến tuyến, không bom đạn, không giết chóc, chỉ có cô và hắn, chỉ có hai con người một nam một nữ ngồi bên sông, không pháo sáng, không thù hận, có bao nhiêu điều để hỏi, bao nhiêu điều để nói thì mọi sự sẽ trở nên dễ chịu biết bao! Trước mắt hắn, cô là một ẩn số hút hoẳm mà hắn khao khát khám phá nhưng lại phải diễn vai kịch hận thù. Lần đầu tiên hắn lờ mờ cảm thấy cuộc chiến tranh này có gì không thật, không đúng như chính nó.”
Khép lại tiểu thuyết là cảnh hai bà mẹ của hai nhân vật chính ở hai chiến tuyến cùng trở lại Thành cổ viếng mộ con, họ tình cờ gặp nhau, cùng thắp nén hương lên hai ngôi mộ, để lại nhiều sự day dứt trong lòng người đọc. Không còn chiến tranh, không còn thế lực thù địch, hai người mẹ cùng sẻ chia nỗi đau mất con, khung cảnh tang thương ấy lại sáng lên một niềm tin rằng, khi có thể xóa bỏ những hận thù, khép lại quá khứ bi thương đã qua, cả dân tộc có thể cùng chung tay xây dựng đất nước hòa bình… Trong phiên bản điện ảnh, niềm tin ấy còn được cụ thể hóa bằng phân cảnh Cường và Quang gục ngã bên cạnh nhau, giữa hai người là tấm vải trắng hình chữ S, đại diện cho hai chiến tuyến nhưng chung một dòng máu. Tất cả nói lên lời khẳng định rằng, đất nước nhất định sẽ thống nhất. Người Việt Nam chiến thắng kẻ thù không chỉ bằng lòng dũng cảm, trí thông minh mà còn bằng lý tưởng, tình người, cái đẹp và sự thanh thản. Giữa tro tàn của cuộc chiến, tình người và lòng bao dung vẫn luôn sinh sôi nảy nở, bao bọc lấy những vết thương chưa kịp lành trong trái tim những người ở lại.
“- Chị cho phép tôi thắp một nén hương lên mộ cháu...
Câu nói ấy khiến người mẹ của Quang khẽ rùng mình đứng dậy, run run chắp hai bàn tay trước ngực, hơi cúi xuống như một động thái biết ơn, một động thái cảm kích rồi chỉ đứng lặng, rưng rưng nước mắt...
Dưới kia, dòng Thạch Hãn vẫn êm đềm trôi chảy như một khúc hát ru đưa con người vào những miền cảm xúc thánh thiện, đơn sơ, thuần phác, tinh khiết và bất tận”
Cảm nhận chung
Khi đọc Mưa đỏ của nhà văn Chu Lai, người đọc không chỉ cảm nhận được sự tàn khốc của chiến tranh, mà còn chìm đắm trong một cảm giác choáng ngợp trước lòng dũng cảm phi thường của thế hệ cha ông. Cuốn sách không phải là một câu chuyện cổ tích, nhưng lại kể về những anh hùng có thật, những con người đã biến một cuộc chiến bi thương thành một bản hùng ca bất tử. Sự thành công của việc tái dựng lại bức tranh bi tráng về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972 đã khẳng định, sức sống mãnh liệt và sức hấp dẫn vẫn còn vẹn nguyên, đủ để lay động trái tim người đọc của đề tài chiến tranh và lòng yêu nước.
Nhìn chung, Mưa đỏ mượn trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị để nhắc nhở chúng ta về một giai đoạn lịch sử hào hùng, nơi mà máu xương đổ xuống, đất trời lưu danh những người lính trẻ, tuổi đời chỉ mới mười tám, đôi mươi nhưng mang trong mình tinh thần kiên trung, bất khuất. Đọc Mưa đỏ, ta mới càng thấm thía việc có được sự tự do, hòa bình không phải một điều dễ dàng. Từ đó, ta mới có thêm động lực để phát triển quê hương, đất nước rạng danh năm châu. Và ta càng thêm biết ơn, tự hào về lịch sử dân tộc, niềm tự hào được viết bằng máu, bằng tuổi xuân của những con người đã đi vào cuộc chiến. Họ hi sinh ước mơ của riêng mình để đổi lại sự độc lập, tự do cho con cháu.



