CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA NGƯỜI ANH HÙNG NGUYỄN VĂN MÔN
Tròn một nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ký ức về thời khắc lịch sử khi đất nước giải phóng vẫn vẹn nguyên trong tâm khảm của những người lính năm xưa và đồng bào. Trên mảnh đất Mễ Sở hiền hòa của tỉnh Hưng Yên, có một cụ ông dáng người gầy gò, mái tóc bạc trắng như mây chiều, nhưng ánh mắt vẫn sáng rực niềm tự hào. Đó là cụ Nguyễn Văn Môn, 95 tuổi, một cựu chiến binh hai cuộc kháng chiến – biểu tượng của thế hệ “sống giữa bom đạn mà vẫn nuôi trong tim ngọn lửa tự do”. Cụ và các đồng chí khác đã vẽ l
Sinh vào khoảng năm 1930, trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, Hưng Yên, cụ Môn lớn lên giữa những năm tháng đất nước rực lửa giành độc lập. Năm 16 tuổi, cái tuổi lẽ ra chỉ biết đến học hành nhưng cậu học sinh Nguyễn Văn Môn đã nhận nhiệm vụ làm giao liên tại Hà Nội. Cậu thanh niên mảnh khảnh khi ấy đã dám lặng lẽ đưa Việt Minh ra cứ, phát truyền đơn vạch tội ác thực dân Pháp. Trong tiếng trống kháng chiến sục sôi, cậu thanh niên trẻ tuổi đã tình nguyện làm giao liên cho lực lượng Việt Minh.
Ngày ấy, nhiệm vụ của cụ giản dị mà hiểm nguy: đưa thư, chuyển tài liệu, truyền tin giữa các đơn vị kháng chiến. Con đường từ Mễ Sở ra Hà Nội đầy rẫy những ổ phục kích, nhưng người thanh niên nhỏ bé ấy vẫn lặng lẽ băng qua ruộng đồng, vượt đê sông Hồng, mang trong người niềm tin sắt đá: “Chỉ có độc lập mới có cuộc sống yên bình cho dân mình”. Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp, cụ Môn đã tham gia nhiều chiến dịch tại vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, góp phần bảo vệ hậu phương, vận chuyển lương thực và vũ khí cho mặt trận. Những đêm hành quân, cụ vẫn nhớ rõ tiếng dế rả rích bên bờ đê và ánh trăng soi bóng người lính trẻ ôm súng nằm giữa đồng lúa.
Một lần, cụ bị giặc bắt, đưa ra bãi giữa sông Hồng. Giữa vòng vây tử thần, cậu bé ấy đã liều mình lao xuống dòng nước cuồn cuộn, bơi ngang sông trở về Hưng Yên, trốn thoát một cách kỳ diệu. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đất nước tạm chia hai miền. Không yên lòng trước cảnh non sông bị chia cắt, cụ tiếp tục ở lại quê hương, tham gia lực lượng dân quân tự vệ xã, vừa sản xuất, vừa canh gác đê điều, giữ gìn an ninh vùng hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ.
Năm 1968, cụ Môn khi ấy là đội trưởng đội dân quân tự vệ trực chiến ở bãi đê sông Hồng. Cái đêm bầu trời đỏ lửa, đội dân quân của cụ đã bắn rơi một chiếc B-52, bắt sống phi công Mỹ. Những năm ấy, đạn bom Mỹ rải xuống đồng bằng Bắc Bộ, nhiều cây cầu, đê sông Hồng trở thành mục tiêu đánh phá. Cụ Môn cùng anh em dân quân Mễ Sở trực đêm canh đê, bảo vệ cầu đường, sơ tán dân và hàng hóa. “Đêm nào còi báo động vang lên, chúng tôi lại lao ra bãi sông, đào hầm, dập lửa, giữ lấy mảnh



