Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ NHỮNG TRANG NHẬT KÝ

Những kỷ vật trở về từ chiến trường dù dưới bất cứ hình thức nào cũng đều có ý nghĩa lớn lao, như nối liền sợi dây ký ức về người ra đi, người ở lại. Những kỷ vật cũng trở thành cảm hứng cho những tác phẩm đặc biệt về chiến tranh. Ở đó không chỉ có mất mát, đau thương mà có cả tình yêu chân thành, giản dị của người lính. Mảnh ghép hoàn thiện Kỷ vật của liệt sĩ Trần Minh Tiến ở chiến trường được giữ gìn và công bố là một trong những câu chuyện kỳ lạ và cảm động. Liệt sĩ Trần Minh Tiến, sinh năm 1945, ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Trước khi vượt dãy Trường Sơn “đi B”, chiến sĩ trẻ để lại cho bạn gái là Vũ Lưu Liên những lá thư và cuốn nhật ký. Những trang giấy gói trọn tâm tình của anh bộ đội Trần Minh Tiến viết trong những ngày tháng rèn luyện gian khổ. Nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến viết trong khoảng thời gian từ tháng 11/1966 đến tháng 3/1968 được nhà văn Đặng Vương Hưng (người sáng lập tổ chức Trái tim người lính Việt Nam) sưu tầm, tuyển chọn và tập hợp trong cuốn sách Trở về trong giấc mơ xuất bản lần đầu năm 2005.

TP. Hồ Chí Minh03/09/2026xã Phú Xuân (xã Phú Xuân (2))2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ NHỮNG TRANG NHẬT KÝ

 

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ NHỮNG TRANG NHẬT KÝ

Những kỷ vật trở về từ chiến trường dù dưới bất cứ hình thức nào cũng đều có ý nghĩa lớn lao, như nối liền sợi dây ký ức về người ra đi, người ở lại. Những kỷ vật cũng trở thành cảm hứng cho những tác phẩm đặc biệt về chiến tranh. Ở đó không chỉ có mất mát, đau thương mà có cả tình yêu chân thành, giản dị của người lính.

Mảnh ghép hoàn thiện

Kỷ vật của liệt sĩ Trần Minh Tiến ở chiến trường được giữ gìn và công bố là một trong những câu chuyện kỳ lạ và cảm động. Liệt sĩ Trần Minh Tiến, sinh năm 1945, ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Trước khi vượt dãy Trường Sơn “đi B”, chiến sĩ trẻ để lại cho bạn gái là Vũ Lưu Liên những lá thư và cuốn nhật ký. Những trang giấy gói trọn tâm tình của anh bộ đội Trần Minh Tiến viết trong những ngày tháng rèn luyện gian khổ.

Nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến viết trong khoảng thời gian từ tháng 11/1966 đến tháng 3/1968 được nhà văn Đặng Vương Hưng (người sáng lập tổ chức Trái tim người lính Việt Nam) sưu tầm, tuyển chọn và tập hợp trong cuốn sách Trở về trong giấc mơ xuất bản lần đầu năm 2005.

Năm 2021, kỹ sư Lâm Hồng Tiên, người chuyên nghiên cứu các hồ sơ chiến tranh và thông tin về liệt sĩ phát hiện thêm một cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bản chụp được lưu tại Đại học công nghệ Texas (Mỹ). Cuốn sổ lịch đề năm 1968 gồm những ghi chép cá nhân của liệt sĩ Trần Minh Tiến, thuộc Sư đoàn 308. Sổ do lính Mỹ thu giữ tại Quảng Trị năm 1968. Thời gian ghi chép từ 8/1/1968 đến 28/5/1968, gần như tiếp nối cuốn nhật ký mà liệt sĩ Tiến đã trao lại cho bạn gái trước khi vào chiến trường B.

Trang đầu cuốn sổ lịch, phần tên có ghi chữ Minh Tiến, lồng phía trong là chữ Lưu. Các thông tin khác ghi lần lượt ngày sinh, nơi làm việc. Trang phía trong có ghi dòng chữ “Nhớ lại những quá khứ”, kèm chữ ký của hai người là Minh Tiến 20/3/1968, và Lưu Liên 7/1/1968. Theo thông tin mà anh Lâm Hồng Tiên tra soát thêm từ hồ sơ của Đại học công nghệ Texas, cuốn sổ do lính Mỹ thu giữ ngày 31/5/1968 từ các thi thể bộ đội Việt Nam tại khu vực nam QL9, Hướng Hóa- Quảng Trị, sau trận chiến dữ dội từ 10h đến gần 16h.

Trước đó, anh Tiên đã tra cứu và biết được thông tin về liệt sĩ Minh Tiến, bà Lưu Liên cùng tác phẩm Trở về trong giấc mơ. “Đọc thấy tên chủ nhân cuốn sổ, tôi bỗng thấy sởn gai ốc và lạnh người vì quá khớp thông tin. Ngày 2/6/2021 tôi đăng bài về kỷ vật của liệt sĩ Tiến. Tình cờ vào nhóm thông tin về cựu chiến binh, tôi thấy có bài viết về cuốn Trở về trong giấc mơ. Bài viết chị Liên đăng cách đó ít ngày, vào đúng ngày giỗ theo dương lịch của liệt sĩ Tiến”, anh Tiên nói.

Khi anh đăng thông tin lên Facebook cá nhân, bà Lưu Liên đã xác nhận cuốn sổ lịch của liệt sĩ Trần Minh Tiến, do bà gửi tặng khi chia tay người yêu. “Liệt sĩ linh thiêng đã về với tôi, tôi thực sự xúc động…”, bà Liên phản hồi bài viết của anh Lâm Hồng Tiên.

Năm 1963, Trần Minh Tiến (17 tuổi) được tuyển vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện tân binh, anh được giao nhiệm vụ làm cầu thủ đá trung vệ cho đội bóng của Sư đoàn 308. Đại tá Kiều Hữu Thuần (tức Kiều Thuần, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Hà Tây cũ) nhớ lại: Năm 1965, khi Đội bóng Sư đoàn 308 giải thể vì tình hình nhiệm vụ mới, Trung đội trưởng Kiều Thuần được lệnh tiếp nhận một số chiến sĩ về đơn vị, trong đó có Trần Minh Tiến. “Đó là một thanh niên người tầm thước, da ngăm đen, thân hình chắc nịch, tính sôi nổi, hay hát và hay cười. Cậu ấy có chiếc răng khểnh rất duyên, tự nhiên và thoải mái trong giao tiếp, nên ai cũng mến”, ông Thuần kể. Trần Minh Tiến gác lại ước mơ làm cầu thủ chuyên nghiệp để đi ra chiến trường.

Hàng năm, gia đình bà Lưu Liên đều vào nghĩa trang Đường 9 (Quảng Trị) để thắp hương tưởng nhớ liệt sĩ Trần Minh Tiến. Bất cứ công việc trọng đại hay dự định gì của gia đình, các con bà Liên cũng dâng hương “xin ý kiến” liệt sĩ Trần Minh Tiến, như một người thân trong gia đình.

Cái kết đẹp cho những lá thư chiến trường

Cuốn sách Trở về trong giấc mơ tái bản năm 2024. Những người biên soạn cung cấp thêm cho độc giả nội dung đầy đủ 109 bức thư của liệt sĩ Trần Minh Tiến gửi cho người yêu Lưu Liên, qua hình thức quét mã QR.

“Vượt lên trên những cảm xúc riêng tư của tình yêu đôi lứa, cuốn sách khơi nguồn cảm hứng giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc kháng chiến trường kỳ, nhiều hi sinh, mất mát nhưng rất đỗi tự hào của dân tộc cũng như hoài bão, khát vọng cống hiến cho đất nước của thế hệ cha anh, để vững vàng bước tiếp trên chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay”, đại diện NXB Chính trị quốc gia Sự thật nói.

Anh Trần Minh Tiến ghi chép rất nhiều trong khoảng thời gian mới nhập ngũ và nhất là giai đoạn hành quân đi B. “Thời gian ghi nhật ký chỉ gói gọn trong khoảng hơn một năm và những nhân chứng, sự kiện trong đó đã diễn ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Tuy nhiên, đó là những trang ghi chép hết sức chân thực và vô cùng quý báu của Trần Minh Tiến”, nhà văn Đặng Vương Hưng nói.

Qua những trang viết của chàng lính trẻ Trần Minh Tiến, bạn đọc sẽ hiểu được những đơn vị bộ đội chủ lực miền Bắc đã tập luyện gian nan, vất vả như thế nào để chuẩn bị cho cuộc hành quân, vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu. Từng dòng nhật ký của liệt sĩ Trần Minh Tiến là minh chứng cho những ngày gian khó: “Đánh xong trận phục kích giả tưởng, người mình trở nên tàn tệ quá. Áo quần lem luốc bùn lầy, súng đầy bụi đất, giày thì một chiếc còn, một chiếc mất, mặt mũi hốc hác tái ngắt, đôi mắt cứng đờ, râu ria tua tủa trông thật gớm”…

Không chỉ ghi chép về chuyện tập luyện gian nan vất vả, mà Trần Minh Tiến luôn coi những trang sổ tay ghi chép của mình là nơi để bộc bạch tâm tư, tình cảm sâu kín nhất trong lòng. Cuốn sổ nhỏ đã trở thành một người bạn tâm tình, chia sẻ với anh những nỗi niềm, tâm tư, giúp anh thêm nghị lực, sức mạnh và niềm tin để vượt lên khó khăn.

Nhà văn Đặng Vương Hưng tâm sự, có một thời, người ta tưởng rằng tâm tư anh bộ đội trong những năm tháng kháng chiến lúc nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu, lúc nào cũng lạc quan phơi phới, lúc nào cũng háo hức ra trận, chỉ chờ một câu hô “Xung phong!” là tất cả đều xông lên giết giặc lập công... Nhưng ra trận, nghĩa là vào chỗ sinh tử, không ai là không suy nghĩ. Chỉ khi ngồi trước cây bút, trang giấy để viết thư cho người thân thiết, hoặc ghi nhật ký... người lính mới có điều kiện nói thật những buồn vui của mình.

Trong nhật ký ngày 23/1/1967 của anh Trần Minh Tiến có đoạn: “Nhìn bề ngoài ai cũng tưởng mình vô tư lắm vì lúc nào cũng hát cũng cười. Khi cười, mình cũng thấy đời thêm nhiều nhựa sống. Nhưng mỗi tiếng cười đều chứa đựng một điều suy nghĩ sâu xa, cười để cho ta đỡ chán đời, cười để đỡ suy nghĩ miên man, cười để chế giễu một kẻ hèn hạ trong cuộc sống…”. Chàng trai ngoài đôi mươi cũng tự nhủ không bao giờ để mình rơi vào sự bi quan, chán nản.

Giữa tháng 3/1968, đơn vị của anh chính thức nhận lệnh đi B. Đây là thời điểm ác liệt của chiến trường miền Nam. Ngày 31/5/1968, anh Trần Minh Tiến hi sinh tại Quảng Trị. Trận đánh ác liệt khiến gần 1/4 chiến sĩ của đơn vị anh không thể trở về. Chủ nhân cuốn nhật ký chiến trường đã đi xa, nhưng cuốn sách Trở về trong giấc mơ phần nào gói ghém những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ sâu sắc đầy yêu thương và trách nhiệm của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Đó là trách nhiệm với người yêu, với cuộc đời, với Tổ quốc của người lính trẻ.

Hàng chục nghìn trang nhật ký từ chiến trường trải qua hành trình ly kỳ, nhiều tư liệu quý đã trở về với gia đình và quê hương. Trong các tác phẩm thuộc tủ sách Mãi mãi tuổi hai mươi, bên cạnh những cuốn nhật ký, ghi chép chiến trường của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân, nay có thêm một cuốn nhật ký lay động của liệt sĩ Trần Minh Tiến.

Hành trình của những người đọc tài liệu di sản chiến tranh, kết nối các thân nhân chắc chắn chưa dừng lại. Họ tiếp tục cần mẫn nối dài hành trình nâng niu những tư liệu, kỷ vật vô giá từ chiến trường./.

 

 

 

 

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN –

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng.

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4 đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250 lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định. Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu (Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”. Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao, “khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2 người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của những người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ. Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình hôm nay", ông Liên nghẹn ngào.

   

 

  

 

 

Một số hình ảnh nhân chứng lịch sử cựu chiến binh Phạm Trí Liên

 

 

 

 

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn