CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - Nguyễn Đình Triều
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng đối với ông Nguyễn Đình Triều, những ký ức về "thời hoa lửa" trong cuộc chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc vào mùa đông năm 1972 chưa bao giờ phai nhạt theo thời gian. Mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về làm đau nhức những vết thương cũ trên cơ thể, ông Triều lại lặng lẽ ngồi bên hiên nhà, ngắm nhìn chiếc võng dù bạc màu treo dưới gốc cây bưởi sau nhà. Chàng lính trẻ mười tám tuổi của Tiểu đoàn 57, Trung đoàn Tên lửa 261 năm nào giờ đã là một ông già tóc bạc trắng, nhưng từng thước phim ký ức về chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" oanh liệt thì vẫn vẹn nguyên như mới ngày hôm qua. Tháng 5 năm 1972, giữa lúc đế quốc Mỹ điên cuồng leo thang phá hoại miền Bắc lần thứ hai, người thanh niên miền quê trung du ấy đã quyết định gác lại bút nghiên, viết đơn tình nguyện xung phong nhập ngũ vào lực lượng Phòng không - Không quân. Hành trang ông mang theo ngày lên đường gói gọn trong một chiếc ba lô sờn vải, một chiếc đèn pin thắt lưng, và ngôi sao quân công lấp lánh trên chiếc mũ cối còn thơm mùi vải mới, mang theo cả niềm tin sắt son vào ngày bầu trời quê hương sạch bóng quân thù.
Đơn vị của ông Nguyễn Đình Triều nhận lệnh bám trụ tại một trận địa tên lửa ở ngoại thành Hà Nội, một trong những "tọa độ lửa" hướng thẳng vào các đường bay xâm nhập của tiêm kích và siêu pháo đài bay B-52 của địch. Đó là những ngày tháng thử thách tột cùng về cả ý chí lẫn lòng dũng cảm đối với những chàng lính trẻ mười chín, đôi mươi. Họ phải đối mặt với những ngày trực chiến căng thẳng dưới cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông Bắc Bộ, ăn cơm vội ngay tại mâm pháo, ngủ ngủ không tròn giấc bên bệ phóng tên lửa. Trong không gian đặc quánh mùi khói đạn và đất cát, cả kíp chiến đấu phải phối hợp nhịp nhàng, chuẩn bị khí tài thật nhanh để sẵn sàng phóng đạn bất cứ lúc nào. Gian khổ là vậy, nhưng chính trong hoàn cảnh lằn ranh sinh tử cận kề, miếng lương khô bẻ đôi, hớp nước chè xanh chia đều, tình đồng đội lại càng trở nên bền chặt và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Ông Triều vẫn nhớ như in người sĩ quan điều khiển tên lửa tên Chính – một người anh quê gốc Hải Phòng có tính cách bộc trực nhưng vô cùng thương yêu đàn em. Mỗi lúc ngơi tiếng còi báo động, anh Chính lại vỗ vai ông Triều rồi cười bảo rằng cố gắng hiệp đồng cho tốt, hạ gục "ngoài hành tinh B-52" rồi anh dắt về quê Đồ Sơn ăn hải sản, ngắm biển.
Đêm ngày 20 tháng 12 năm 1972, trận địa trở nên khốc liệt đỉnh điểm khi Mỹ mở cuộc tập kích đường không quy mô lớn chưa từng có vào Hà Nội. Địch tập trung máy bay nhiễu loạn toàn bộ hệ thống radar, bom phá và bom từ trường dập xuống xung quanh trận địa không thương tiếc ngày đêm nhằm tê liệt các bệ phóng của ta. Chỉ sau vài loạt bom tọa độ, xung quanh trận địa đã hoàn toàn xám xịt khói bụi, mặt đất rung chuyển dữ dội và những mảnh bom găm phạt đứt các rặng cây quanh công sự. Giữa tiếng còi báo động rú vang và tiếng bom nổ đập bên tai làm ù đặc cả màng nhĩ, tiếng anh Chính trong cabin điều khiển thét lên dõng dạc qua hệ thống thông tin rằng tất cả vào vị trí, bằng mọi giá phải vạch nhiễu tìm thù, một quả đạn còn là còn chiến đấu.
Đúng 5 giờ sáng ngày 21 tháng 12, một tốp B-52 từ hướng Tây Bắc lừng lững tiến vào vùng trời Hà Nội. Ông Triều lúc này là chiến sĩ trắc thủ góc tà, mắt căng ra trên màn hình radar nhiễu trắng xóa như tổ ong, tay quay tay quay nhịp nhàng để bám sát mục tiêu. Khi anh Chính phát lệnh "Phóng!", hai quả đạn tên lửa Dvina vút lên, xé toạc màn đêm lạnh giá, lao thẳng vào nền trời. Một tiếng nổ lớn cùng vệt chớp sáng rực rỡ báo hiệu chiếc "siêu pháo đài bay" đi đầu đã trúng đạn, bốc cháy như một ngọn đuốc khổng lồ ngã rụt xuống đất. Nhưng ngay khoảnh khắc chiến công ấy vừa hoàn thành, một quả tên lửa sơ-rai của máy bay tiêm kích địch điên cuồng bắn trả đã nổ tung ngay gần đài điều khiển. Sức ép nghẹt thở cùng hàng loạt mảnh bom găm vào trận địa, một mảnh pháo sắc nhọn đã bắn trúng sườn trái và bả vai của ông Triều. Ông ngã khụy xuống sàn cabin, máu tuôn ra ướt đẫm tấm áo chiến sĩ. Giữa cơn nửa tỉnh nửa mê vì mất máu và đau đớn, ông thấy anh Chính lao đến, xé vội chiếc băng cá nhân bó chặt vết thương cho ông, rồi quay lại vị trí tiếp tục cùng kíp chiến đấu chỉ huy loạt đạn tiếp theo. Trận chiến đêm ấy kết thúc thắng lợi, đơn vị ông hạ gục được mục tiêu, nhưng anh Chính cùng hai người đồng đội khác do trúng bom bi khi ra nạp đạn ngoài bệ phóng đã mãi mãi nằm lại bên những mảnh xác tên lửa. Người sĩ quan điều khiển ấy đã anh dũng hy sinh khi chưa kịp thực hiện lời hứa đưa người em út của kíp chiến đấu về thăm biển quê hương.
Chiến tranh kết thúc, ông Nguyễn Đình Triều may mắn đi qua làn mưa bom bão đạn bảo vệ bầu trời miền Bắc mà vẹn toàn thân thể trở về quê hương. Tuy đôi chân vẫn vững chãi bước đi trên con đường làng, ông vẫn mang trên mình danh hiệu thương binh với những mảnh đạn găm sâu ở sườn và bả vai không thể phẫu thuật, thường nhức buốt mỗi khi trái gió trở trời. Giờ đây, trong ngôi nhà nhỏ thanh bình, ông Triều dành vị trí trang trọng nhất phòng khách để treo bức ảnh chụp chung của kíp chiến đấu tên lửa trước ngày vào chiến dịch năm ấy. Bức ảnh đã ố vàng theo năm tháng, nhưng nụ cười của những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi thì vẫn mãi mãi vẹn nguyên, không bị thời gian tàn phá. Bên dưới bức ảnh, ông trân trọng trưng bày những kỷ vật vô giá như chiếc la bàn cơ học bị móp một góc do mảnh bom của anh Chính để lại, cuốn sổ tay úa màu chép những bài thơ viết vội giữa hai trận đánh, và một mảnh xác máy bay B-52 rơi được mài nhẵn thành chiếc lược nhỏ. Hằng ngày, ông Triều vẫn tích cực tham gia vào các hoạt động của Chi hội Cựu chiến binh địa phương, gương mẫu đi đầu và giúp đỡ những gia đình thương binh liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn. Chiều chiều, ông lại ra ngồi bên chiếc võng dù sau nhà, kể cho đứa cháu nội nghe về những ngày đêm rực lửa, về những con rồng lửa thăng thiên bảo vệ dòng sông, mảnh đất quê hương năm xưa. Đối với ông Nguyễn Đình Triều, việc kể lại những câu chuyện thời hoa lửa ấy không phải để khơi gợi đau thương, mà là để nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay rằng mỗi khoảng trời xanh hòa bình ngày hôm nay đều đã được đánh đổi bằng máu, mồ hôi và tuổi thanh xuân của một thế hệ anh hùng, từ đó biết trân trọng và sống có ích hơn cho xã hội.



