Cựu chiến binh

Câu chuyện Thời Hoa Lửa Nguyễn Văn Sản

Đắk Lắk25/12/2025Phan Tố Uyên (Đoàn xã Ea Drăng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu chuyện Thời Hoa Lửa Nguyễn Văn Sản

Có một thời, lịch sử dân tộc không được ghi dấu bằng những trang lịch bình lặng, mà được khắc sâu bằng tiếng bom rung chuyển núi rừng, bằng những bước chân hành quân lặng lẽ xuyên đêm và bằng biết bao giấc mơ tuổi trẻ còn dang dở. Người ta gọi quãng thời gian ấy là thời hoa lửa – thời của chiến tranh khốc liệt, nhưng cũng là thời của lý tưởng cao đẹp, của những con người sẵn sàng cháy hết mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Ở tuổi 86, ký ức về những năm tháng ấy trong ông Nguyễn Văn Sản vẫn còn vẹn nguyên, như mới ngày hôm qua. Dẫu thời gian đã phủ lên mái tóc ông màu bạc trắng, nhưng những hình ảnh của một thời cầm súng, một thời sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí. Ông là một trong những người lính đã dành trọn tuổi xuân cho đất nước, trực tiếp tham gia vào những trận đánh cuối cùng, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975, khép lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ mà hào hùng.

Sau khi thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đất nước chìm trong khói lửa, làng mạc tan hoang, biết bao gia đình ly tán. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Trị – nơi được mệnh danh là “tuyến lửa” của Tổ quốc, ông Nguyễn Văn Sản sớm thấu hiểu nỗi đau mất mát do chiến tranh gây ra. Trước tiếng gọi thiêng liêng của non sông, với trái tim rực cháy lòng yêu nước và ý chí của người con đất Việt, ông đã quyết định gác lại những dự định riêng, tình nguyện bước vào chiến trường đầy hiểm nguy.

Năm 1969, ông chính thức nhập ngũ sau khi được huấn luyện ngoài Hà Bắc. Trước đó, ông từng theo học tại trường trung cấp Thống kê, mang trong mình nhiều ước mơ giản dị của tuổi trẻ. Thế nhưng, khi Tổ quốc cần, ông không do dự lựa chọn con đường ra trận. Ông được biên chế vào đơn vị E31 – F2 – Quân khu 5, hoạt động dân quân du kích, trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những năm tháng ấy, ông cùng đồng đội đã trải qua vô vàn gian khổ: hành quân giữa mưa bom bão đạn, thiếu thốn lương thực, thuốc men, đối mặt với cái chết mỗi ngày. Nhưng trên tất cả, họ vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững niềm tin vào ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.

Ông đã trải qua những cuộc hành quân dài ngày từ Bắc vào Nam, băng qua dãy Trường Sơn hùng vĩ mà khắc nghiệt, nơi in dấu biết bao bước chân của bộ đội ta trong những năm tháng kháng chiến. Có những thời điểm, đoàn quân phải vượt qua cả đất Lào, men theo những con đường mòn cheo leo, hiểm trở, ngày ẩn mình trong rừng sâu, đêm lặng lẽ tiến bước dưới ánh trăng mờ. Mỗi bước chân đi là một lần đối mặt với hiểm nguy, với bom đạn rình rập từ trên không, với sốt rét rừng, đói khát và kiệt sức.

Hành trình vào chiến trường miền Nam của ông Nguyễn Văn Sản cùng đồng đội bắt đầu bằng những chuyến xe quân sự từ Hà Bắc đi qua Nghệ An – Hà Tĩnh. Khi xe không thể đi tiếp, họ lại tiếp tục hành quân bộ, mang trên vai ba lô nặng trĩu vũ khí, lương thực cùng với niềm tin sắt son vào ngày thắng lợi tiến vào miền Nam. Dọc tuyến đường Trường Sơn, không chỉ là con đường chiến lược đưa lực lượng từ hậu phương lớn miền Bắc vào chi viện cho tiền tuyến miền Nam, mà còn là mạch máu giao thông quan trọng để tiếp tế lương thực, vũ khí, đồng thời đưa những người lính bị thương trở về tuyến sau điều trị.

Trường Sơn khi ấy vừa là con đường sống, vừa là chiến trường ác liệt. Bom đạn cày xới ngày đêm, rừng núi bị tàn phá nặng nề, nhưng ý chí của người lính thì không gì có thể lay chuyển. Giữa muôn vàn gian khổ ấy, ông Nguyễn Văn Sản và đồng đội vẫn sát cánh bên nhau, chia từng nắm cơm, từng ngụm nước, động viên nhau vượt qua nỗi sợ hãi và mất mát. Chính từ những cuộc hành quân thầm lặng ấy, từ những hy sinh không tên ấy, sức mạnh của cả dân tộc đã được hun đúc, tạo nên nền tảng vững chắc cho ngày toàn thắng mùa xuân năm 1975.

Trong suốt những năm tháng ở chiến trường, ông Nguyễn Văn Sản đã tham gia nhiều chiến dịch lớn nhỏ, chiến đấu bền bỉ, không biết mệt mỏi. Có lần, ông là người chỉ huy trưởng cùng đồng đội canh giữ một chốt trên ngọn đồi cao – vị trí then chốt giữa mưa bom bão đạn. Trên chốt khi ấy chỉ vỏn vẹn ba người lính, nhưng tất cả đều mang trong mình quyết tâm sắt đá: quyết không để chốt rơi vào tay địch.

Giữa làn bom đạn dày đặc, trước sự tấn công ngày càng dồn dập của quân thù, ông vẫn bình tĩnh chỉ huy anh em bám trụ đến cùng.

“Phải đánh! Không đánh thì mình cũng chết.”

-Nguyễn Văn Sản-

Khi không thể xung phong lên được nữa, quân địch bắt đầu bắn pháo dữ dội. Ban đầu là pháo tầm xa, sau đó khi áp sát chốt, chúng sử dụng bom M79 để tấn công trực diện. Một quả M79 phát nổ gần vị trí phòng thủ, những mảnh đạn gián tiếp găm vào chân ông, khiến ông bị trọng thương, sau đó ông được đưa về điều trị rồi lại tiếp túc xung phong ra chiến trường chiến đấu. Lần nặng nhất là khi ông thương gãy cánh tay phải, bên phải là bên ngắm súng mà giờ lại bị thương khiến ông không thể tiếp tục chiến đấu. Ông đã liên lạc về tiểu đoàn, báo cáo rõ tình hình và thông báo rằng bản thân đã bị thương, không thể tiếp tục chiến đấu, đề nghị cấp trên cử người khác lên thay thế để giữ vững chốt. Dù ông may mắn sống sót, nhưng một người đồng đội của ông đã mãi mãi nằm lại, anh dũng hy sinh giữa chiến trường khốc liệt. Đồng thời vết thương ở cánh tay phải không chỉ khiến ông không thể tiếp tục cầm súng trong những ngày sau đó, mà còn để lại di chứng suốt cả cuộc đời – như một dấu ấn không thể xóa nhòa của những năm tháng thời hoa lửa.

Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Sản đã để lại trong lòng chúng cháu nhiều cảm xúc dạt dào và sâu lắng. Đó không chỉ là sự xúc động trước những năm tháng chiến tranh khốc liệt, mà còn là lòng biết ơn vô hạn đối với thế hệ ông cha đã sẵn sàng hy sinh tuổi xuân, máu xương và cả cuộc đời mình vì độc lập, tự do của dân tộc.

Những ký ức của ông giúp chúng cháu hiểu rằng, hòa bình hôm nay không phải điều tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả sự sống của biết bao người lính nơi chiến trường. Nhờ những con người ấy, thế hệ trẻ hôm nay mới được sống trong yên bình, được học tập, được ước mơ và được viết tiếp tương lai của đất nước.

“Họ cầm súng để ta được cầm bút,
họ đánh giặc để ta được đánh vần,
họ đi trong đêm tối để ta được thấy ánh bình minh.”

Những câu chuyện về một lịch sử được viết bằng sương máu như đang nhắc nhở mỗi người trẻ hôm nay: “Hãy sống xứng đáng với những hy sinh thầm lặng của cha ông, trân trọng hòa bình và không ngừng nỗ lực để xây dựng một Việt Nam ngày càng tốt đẹp”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn