CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA PHẦN 7
Mẹ Phạm Thị Xem sinh ra tại xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (cũ) — mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi nhiều thế hệ người dân đã sớm giác ngộ, đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Ngay từ thuở nhỏ, Mẹ đã được nuôi dưỡng trong không khí gia đình thấm đẫm tinh thần yêu nước, nghĩa tình và trách nhiệm với quê hương, đất nước.
Ông nội của Mẹ làm nghề dạy học, không chỉ truyền dạy chữ nghĩa mà còn âm thầm gieo mầm lòng yêu nước cho con cháu và người dân trong vùng. Bằng uy tín, trí tuệ và tấm lòng của mình, ông luôn hết lòng giúp đỡ cán bộ cách mạng, che chở, bảo vệ lực lượng hoạt động bí mật, đồng thời tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội trong những năm tháng chiến tranh đầy gian nan, hiểm nguy. Những việc làm lặng lẽ nhưng đầy dũng khí ấy đã trở thành bài học sống động, in sâu trong tâm trí Mẹ từ khi còn rất trẻ. Chính truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước đó đã sớm hun đúc ở Mẹ Phạm Thị Xem tinh thần cách mạng, ý chí kiên cường và tấm lòng son sắt với Tổ quốc. Lớn lên trong môi trường ấy, Mẹ sớm ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước và sẵn sàng dấn thân vào con đường cách mạng đầy gian nan, thử thách.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Mẹ cùng với chồng là ông Nguyễn Văn Tỷ đã tích cực tham gia các hoạt động cách mạng tại địa phương. Hai vợ chồng âm thầm giúp đỡ cán bộ, nuôi giấu bộ đội, tiếp tế lương thực và bảo vệ cơ sở cách mạng, bất chấp sự truy lùng, đàn áp khốc liệt của kẻ thù. Ông Nguyễn Văn Tỷ tham gia lực lượng du kích địa phương, sau đó tham gia lực lượng dân quân của huyện, trực tiếp hoạt động trong phong trào kháng chiến. Trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt giam, chịu nhiều đòn tra tấn dã man. Đến năm 1948, ông đã hy sinh trong nhà tù của địch, để lại nỗi đau mất mát to lớn cho Mẹ và gia đình. Sự hy sinh anh dũng ấy sau này đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, truy tặng danh hiệu liệt sĩ, khắc ghi công lao của ông đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trước nỗi đau riêng không gì bù đắp, Mẹ vẫn kiên cường vượt qua, giữ trọn niềm tin với cách mạng, tiếp tục cống hiến thầm lặng cho Tổ quốc. Tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình và từ người chồng đã anh dũng hy sinh, Mẹ đã lần lượt tiễn các con trai lên đường ra chiến trường, dấn thân vào cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Người con trai lớn của Mẹ là ông Nguyễn Văn Biên do điều kiện đi học nên ông mang họ của mẹ là Phạm Văn Biên. Sau khi hoàn thành việc học, ông tham gia hoạt động cách mạng trong lực lượng tiểu đoàn1, chính thức đứng vào hàng ngũ cách mạng khi chỉ mới 20 tuổi. Trong quá trình làm nhiệm vụ, ông luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, trách nhiệm và ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Tuy nhiên, đến năm 1963, ông đã anh dũng hy sinh, để lại nỗi đau sâu sắc cho gia đình và người Mẹ tảo tần. Rồi người con trai thứ hai của Mẹ là ông Nguyễn Văn Nghĩa, sớm giác ngộ cách mạng tiếp bước anh trai và tình nguyện lên đường ra chiến trận, trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt và giam giữ tại Nhà lao Chí Hòa, sau đó bị đày ra Côn Đảo vào năm 1971.
Trong suốt những năm tháng bị giam cầm tại Nhà lao Chí Hòa và Côn Đảo, ông phải chịu đựng nhiều hình thức tra tấn, hành hạ vô cùng dã man, cả về thể xác lẫn tinh thần; song với ý chí sắt đá và niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng cách mạng, ông vẫn kiên cường chịu đựng, quyết không khuất phục trước kẻ thù, giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Đến năm 1974, ông được trao trả tù binh, trở về trong niềm xúc động khôn nguôi của Mẹ và gia đình. Dù phải gánh chịu những mất mát vô cùng to lớn khi người chồng hy sinh trong lao tù của địch và người con trai lớn anh dũng ngã xuống trên chiến trường, nỗi đau chồng chất tưởng chừng không gì bù đắp nổi, nhưng Mẹ vẫn nén chặt nỗi đau riêng, kiên cường đứng vững. Với Mẹ, sự hy sinh của chồng con không chỉ là mất mát của gia đình, mà còn là sự cống hiến cao cả cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong hoàn cảnh ấy, Mẹ cùng với người con trai còn lại và gia đình vẫn một lòng son sắt với cách mạng, tiếp tục tham gia các hoạt động đóng góp cho phong trào kháng chiến tại địa phương. Bất chấp hiểm nguy luôn rình rập, Mẹ vẫn âm thầm nuôi giấu, che chở cán bộ, động viên con tiếp tục con đường mà chồng và con trai đã dâng hiến cả cuộc đời. Chính tinh thần kiên trung, bất khuất ấy đã làm nên hình ảnh cao đẹp của người Mẹ Việt Nam – sống giữa mất mát nhưng không lùi bước, đau thương mà vẫn trọn niềm tin, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, ghi nhận những cống hiến và hy sinh cao cả của Mẹ và gia đình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã long trọng phong tặng danh hiệu cao quý “Mẹ Việt Nam Anh hùng” cho Mẹ Phạm Thị Xem, thể hiện sự tri ân sâu sắc và tôn vinh xứng đáng đối với một người Mẹ đã hiến dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Đó không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng đối với những cống hiến, hy sinh to lớn của riêng Mẹ và gia đình, mà còn là biểu tượng thiêng liêng của truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng kiên trung của quê hương anh hùng. Cuộc đời Mẹ là bản anh hùng ca thầm lặng, được viết nên bằng nước mắt, mất mát và lòng trung trinh son sắt với Đảng, với Tổ quốc.
Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng hình ảnh người Mẹ tảo tần, kiên cường, sẵn sàng hiến dâng chồng con cho độc lập, tự do của dân tộc vẫn mãi in đậm trong ký ức của các thế hệ hôm nay và mai sau. Mẹ Phạm Thị Xem chính là tấm gương sáng về đức hy sinh cao cả, về nghị lực phi thường và lòng yêu nước nồng nàn, nhắc nhở mỗi người con đất Việt luôn trân trọng quá khứ, biết ơn những hy sinh to lớn, từ đó sống trách nhiệm hơn, nỗ lực hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



