CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA | TÔN ĐỨC THẮNG – NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, BIỂU TƯỢNG CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Có những con người được lịch sử ghi nhớ không chỉ bởi những chiến công hiển hách.
Mà còn bởi một cuộc đời thanh bạch, khiêm nhường, tận tụy và tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Đó là Chủ tịch Tôn Đức Thắng – người chiến sĩ cách mạng kiên trung, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là vị Chủ tịch nước thứ hai của nước Việt Nam thống nhất.
Sinh ngày 20/8/1888 tại cù lao Ông Hổ (nay thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang), Tôn Đức Thắng lớn lên trong một gia đình lao động giàu lòng yêu nước. Từ khi còn trẻ, ông đã sớm chứng kiến những bất công của xã hội thực dân và nuôi dưỡng khát vọng đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Là một người thợ máy tài hoa, ông từng làm việc trên các chiến hạm của hải quân Pháp. Năm 1919, tại Biển Đen, Tôn Đức Thắng đã cùng nhiều thủy thủ tiến bộ tham gia cuộc phản chiến, phản đối việc can thiệp vũ trang chống nước Nga Xô viết. Hành động ấy thể hiện tinh thần quốc tế vô sản và khát vọng hòa bình của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam.
Trở về nước, đồng chí tích cực tham gia phong trào công nhân và vận động quần chúng đấu tranh chống thực dân Pháp. Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra nhà tù Côn Đảo.
Suốt 16 năm trong chốn "địa ngục trần gian", dù phải chịu đựng xiềng xích, lao dịch và sự tra tấn khắc nghiệt, Tôn Đức Thắng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ông cùng các đồng chí biến nhà tù thành nơi học tập, rèn luyện và giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tôn Đức Thắng tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Ông luôn là tấm gương về sự gần gũi, giản dị, hết lòng phụng sự Nhân dân và góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Quốc hội đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng giữ cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị đó, ông cùng toàn Đảng, toàn dân lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.
Không chỉ là người lãnh đạo của một giai đoạn lịch sử trọng đại, Chủ tịch Tôn Đức Thắng còn là biểu tượng của sự đoàn kết, lòng nhân ái, đức khiêm nhường và tinh thần phụng sự Tổ quốc không mệt mỏi.
Ngày 30/3/1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, khép lại hơn chín thập kỷ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Cuộc đời của ông là tấm gương sáng về lòng trung thành với Đảng, sự tận tụy với Nhân dân và đức tính giản dị mà bao thế hệ người Việt Nam luôn kính trọng.
Hôm nay, trong thời đại hòa bình và phát triển, tuổi trẻ Việt Nam tiếp nối tinh thần của Chủ tịch Tôn Đức Thắng bằng những việc làm thiết thực: không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, sống trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo và cống hiến vì cộng đồng.
Mỗi công trình thanh niên, mỗi hoạt động tình nguyện, mỗi sáng kiến vì quê hương chính là cách thế hệ trẻ gìn giữ và lan tỏa những giá trị cao đẹp mà Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã dành trọn cuộc đời để vun đắp.
"Một cuộc đời vĩ đại không nằm ở những lời nói lớn lao, mà ở sự cống hiến bền bỉ, khiêm nhường và trọn vẹn cho Tổ quốc và Nhân dân."


