CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA VIẾT TIẾP BẢN HÙNG CA TỪ NHỮNG TRANG GIÁO ÁN
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
VIẾT TIẾP BẢN HÙNG CA TỪ NHỮNG TRANG GIÁO ÁN
Tôi đứng trên cầu Đà Rằng vào một buổi chiều nắng vàng rực rỡ, nhìn dòng nước mênh mông đang lững lờ trôi về phía cửa biển. Trong cơn gió mang theo vị mặn mòi của biển Tuy Hòa, tôi tình cờ gặp bà – một người phụ nữ có mái tóc bạc trắng như cước, đang ngồi lặng yên với đôi mắt nhìn xa xăm về phía chân trời. Giữa nhịp sống trẻ xô bồ, sự tĩnh lặng của bà tỏa ra một sức hút kỳ lạ, khiến bản tính của một sinh viên Sư phạm vốn quen với việc kết nối trong tôi thôi thúc mình bước lại gần.
Ban đầu, tôi hơi ngần ngại vì sợ làm phiền khoảnh khắc riêng tư ấy. Nhưng khi tôi cất lời chào, bà nở một nụ cười hiền hậu, ánh mắt bừng sáng sự bao dung khi nhận ra tấm thẻ thực tập trên áo tôi. Chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện nhỏ về trường lớp, về cảm nhận của một giáo sinh trong kỳ thực tập đầu tiên tại ngôi trường tiểu học Chu Văn An. Khi nghe tôi trăn trở về việc làm sao để truyền dạy những giá trị sống đích thực cho học trò, bà khẽ thở dài, rồi giọng bà trầm xuống, đưa tôi ngược dòng thời gian về với "thời hoa lửa" của mảnh đất Phú Yên này.
Những bức thư trong búi tóc và dòng sông lạnh ngắt
Bà kể về tuổi đôi mươi của mình – cái tuổi lẽ ra phải được soi gương, chải tóc, thì bà lại chọn làm người giao liên bí mật. Đó là những năm tháng mà mỗi bước chân đi đều phải tính toán giữa sự sống và cái chết. Bà nhớ như in một đêm mưa tầm tã năm 1968, khi nhận nhiệm vụ chuyển một bức điện tín quan trọng xuyên qua tuyến phong tỏa của địch. Bà gói kĩ bức thư trong lớp nilon, giấu sâu vào búi tóc dài đen láy để tránh bị phát hiện.
Bất ngờ, một toán tuần tra xuất hiện với tiếng súng nổ chát chúa và tiếng chó sủa xé toang màn đêm. Bà kể, giọng run run khi hồi tưởng lại khoảnh khắc tim đập mạnh đến nỗi tưởng như quân địch đứng trên bờ cũng có thể nghe thấy.
"Lúc đó, bà không sợ chết cho mình con ạ. Bà chỉ sợ nếu mình gục xuống, thông tin về trận càn ngày mai sẽ mãi mãi nằm lại dưới lòng sông này. Cái cảm giác giữa sinh và tử chỉ cách nhau một hơi thở, nó hồi hộp đến nghẹt thở...".
Để tránh ánh đèn pin rà sát mặt nước, bà phải ép mình vào những gốc cây dại mục nát, mặc cho gai sắc nhọn đâm vào da thịt, máu rỉ ra hòa vào dòng nước lạnh ngắt mà không dám kêu một tiếng. Tôi ngồi đó, lặng đi, tay mân mê vạt áo thực tập, cảm nhận được nỗi đau và sự dũng cảm phi thường của một người con gái chỉ trạc tuổi mình khi ấy.
Từ quá khứ hào hùng đến sứ mệnh của người giáo sinh
Khi tôi hỏi bà có bao giờ nghĩ đến việc bỏ cuộc không, bà lắc đầu nhìn ra dòng sông tĩnh lặng: "Không con ạ. So với những anh em đã hy sinh ngoài mặt trận, cái đau này có thấm tháp gì đâu". Câu nói giản đơn ấy khiến lòng tôi dâng lên một sự nể phục khó tả. Bà nhìn tôi cười hiền, nụ cười của một người đã đi qua hết thảy bão giông để đổi lấy sự bình yên cho thế hệ hôm nay.
Trong ký ức của một sinh viên 21 tuổi, chiến tranh vốn dĩ là những trang sách giáo khoa khô khan. Nhưng cuộc gặp gỡ này đã dạy tôi rằng: "Thời hoa lửa" không phải là một khái niệm, đó là những cuộc đời thật, những hy sinh thật. Đứng trước bà, tôi thấy mình nhỏ bé lạ kỳ. Những áp lực về bài soạn, những lo lắng về kỳ thực tập bỗng chốc trở nên nhẹ nhàng hơn. Bà và thế hệ đi trước đã đi qua bom đạn bằng niềm tin sắt đá, vậy chúng tôi hôm nay có lý do gì để không nỗ lực?
Lời hứa của người "giữ lửa"
Là một giáo viên tương lai, tôi hiểu rằng sứ mệnh của mình không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ. Tôi sẽ là người "giữ lửa", kể cho các em học sinh tiểu học nghe về bức thư giấu trong búi tóc, về người con gái đã băng rừng lội suối để bảo vệ xóm làng.
Trên mảnh đất Phú Yên này, từ tháp Nhạn cổ kính đến dòng sông Đà Rằng hiền hòa, mỗi bóng mát mà các em đang ngồi đều được gieo mầm từ những hy sinh kiên cường như thế. Tôi nguyện sẽ mang câu chuyện của bà vào từng bài giảng, để các em biết trân trọng giá trị của hòa bình và nỗ lực học tập để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Bởi tôi biết, đó chính là cách tốt nhất để tri ân những "thời hoa lửa" đã qua.



