Câu chuyện về hai người đồng đội “trở về từ cõi chết” sau Hiệp định Paris
Hai đồng đội của bác Bàn Sinh Minh bị mất tích khi đi thu lượm vật tư của quân Mỹ bỏ lại. Sau 3 năm mới biết là đồng đội bị bắt sống và giam tại Nhà tù trên đảo Phú Quốc. Họ đã thành công trở về từ nơi được coi là "địa ngục trần gian". Sau khi Hiệp định Paris được ký kết họ được trở về và báo lại với đơn vị cũ sau 3 năm "mất tích"
Câu chuyện về hai người đồng đội “trở về từ cõi chết” (1970 - 1973)
Nhân chứng: Cựu chiến binh Bàn Sinh Minh (Sinh năm 1948) – Thôn Tân Ốc 2, xã Lương Minh.
Trong ngôi nhà nhỏ tại thôn Tân Ốc 2, ông Bàn Sinh Minh trầm ngâm nhớ lại những năm tháng thanh xuân tại chiến trường B2 khốc liệt. Câu chuyện của ông không chỉ có tiếng bom đạn, mà còn là nỗi day dứt về số phận của những người đồng đội ngỡ đã nằm lại nơi rừng thiêng.
Câu chuyện đưa chúng ta trở về chiến trường B2 những năm 1970-1972 khốc liệt. Khi ấy, tại vùng rừng già B2 với địa bàn rộng lớn, rừng thiêng nước độc, bộ đội ta phải hành quân cả tháng trời mới xuống được vùng đồng bằng có dân. Nhiệm vụ của người lính trinh sát Bàn Sinh Minh khi ấy vô cùng nguy hiểm: Ngày đêm bám sát chốt địch, đếm từng chiếc xe tăng, pháo, từng đợt quân đổ bộ để nắm tình hình, báo cáo về đơn vị. Gian khổ, hiểm nguy luôn rình rập.
Bác kể lại, quy trình lập chốt của Mỹ rất bài bản và khủng khiếp: Đầu tiên, máy bay thả một quả bom dù (bom tấn) để phát quang cả một quả đồi chỉ trong tích tắc. Khoảng một tiếng sau, máy bay trực thăng vận tải (loại cẩu lớn) thả xe tăng, lô cốt và pháo xuống. Chỉ trong thời gian ngắn, một căn cứ hỏa lực đã hình thành và sẵn sàng nhả đạn.
Nhiệm vụ trinh sát và 6 tháng “nằm gai nếm mật”: Khi đó, bác Minh làm nhiệm vụ trinh sát, ngày nào cũng phải đi tuần tra xung quanh chốt Mỹ. Nhiệm vụ là nắm chắc quân số địch xuống bao nhiêu, máy bay thả quân ra sao và hướng càn quét của địch hàng ngày như thế nào. Dù nhiều lúc rất muốn bắn máy bay địch, nhưng để bảo toàn lực lượng cho chiến lược lâu dài, thủ trưởng đơn vị không cho phép nổ súng tùy tiện.
Địch chốt ở đó suốt 6 tháng ròng rã. Bác Minh và đồng đội ngày nào cũng bám sát mục tiêu như vậy.
Sự cố khi đi “nhặt đồ” và những người mất tích: Sau 6 tháng, quân Mỹ bắt đầu rút quân vào một buổi sáng. Đối với những người lính bám trụ trong rừng sâu thiếu thốn, đây là cơ hội để kiếm thực phẩm. Bác Minh cùng một nhóm khoảng 4-5 người quyết định vào chốt để nhặt đồ hộp mà lính Mỹ bỏ lại.
Lính Mỹ thường đổ thức ăn thừa và đồ hộp vào các thùng phuy (đôi khi dùng làm hố xí dã chiến). Bộ đội ta lấy về, rửa sạch rồi khui ra ăn vẫn ngon lành. Trong hoàn cảnh đó, những chiếc bánh, hộp thịt của Mỹ là nguồn dinh dưỡng quý giá vì “nó không ăn cơm của mình đâu, nó ăn đồ hộp thôi là nó ăn no rồi”.
Tuy nhiên, nguy hiểm ập đến bất ngờ. Khi nhóm của bác đang nhặt đồ, máy bay Mỹ quay lại bắn phá dữ dội khiến không ai kịp trở tay. Bác Minh và 2-3 người khác may mắn chạy thoát về được đơn vị. Nhưng hai người đồng đội đi cùng thì bặt vô âm tín. Một ngày, hai ngày... rồi nhiều tuần trôi qua, đơn vị cử người tìm kiếm nhưng không thấy dấu vết. Hai chữ “Mất tích” được ghi vào sổ, ai cũng đau xót nghĩ rằng các anh đã hy sinh, thân xác vùi lấp đâu đó giữa rừng già.
Sự thật năm 1973 mới rõ ràng: Sau khi địch rút hẳn, khu vực chốt cũ trở nên hoang vắng. Đơn vị của bác Minh tận dụng đất đai ở đó để tăng gia sản xuất, trồng ngô, trồng khoai để cải thiện bữa ăn. Số phận của hai người đồng đội mất tích dần trôi vào quá khứ với giả thiết có thể họ đã hy sinh hoặc bị bắt.
Sự thật chỉ được hé lộ vào năm 1973, trong đợt trao trả tù binh sau Hiệp định Paris. Một người đồng đội cũ của bác Minh khi đó làm nhiệm vụ gác cổng tại điểm trao trả đã bất ngờ gặp lại hai người “chiến sĩ” năm xưa.
Hóa ra, vào cái ngày định mệnh năm 1970 ấy, quân Mỹ chưa rút hết hoàn toàn. Một trung đội Mỹ vẫn còn phục kích ở rìa ngoài căn cứ. Khi thấy bộ đội ta vào nhặt đồ hộp, chúng cho máy bay bắn ép xuống rồi ập vào bắt sống hai chiến sĩ ngay tại hầm.
Hai người đồng đội ấy bị đưa về nhà lao Phú Quốc (trại tù binh của chế độ cũ) và bị giam cầm suốt 3 năm (từ 1970 đến 1973). Ngày được trao trả về, họ mới có cơ hội kể lại sự tình và báo tin về cho đơn vị cũ, giải mã bí ẩn về sự “mất tích” năm xưa. Dù bác Minh không được trực tiếp gặp mặt, không được cái ôm hội ngộ, nhưng khi nghe đồng chí mình kể lại, ông vỡ òa xúc động. Biết đồng đội mình còn sống, đã chiến thắng trở về từ “địa ngục trần gian”, đối với người lính già Bàn Sinh Minh, đó đã là một cái kết trọn vẹn của tình đồng chí.
Thực hiện: Ban Chấp hành Đoàn xã Lương Minh - Đề án "Câu chuyện thời hoa lửa" #ThanhNienLuongMinh #CauChuyenThoiHoaLua #CCBBanSinhMinh



