Người có công giúp đỡ cách mạng

câu chuyện về một anh hùng, danh nhân của nước ta hay nhất - Lê Chân

Tương truyền, Lê Chân quê ở trang Yên Biên (tên Nôm là làng Vẻn, nghĩa là bìa, rìa), huyện Khúc Dương, quận Giao Chỉ (nay thuộc khu An Biên, phường Thủy An, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Cha Lê Chân là Lê Đạo và mẹ bà là Trần Thị Châu. Có tài liệu chỉ ghi mẹ bà họ Trần. Ông Lê Đạo làm nghề thầy thuốc, sống rất nhân từ, quảng đại và sẵn lòng bao dung cứu giúp kẻ nghèo khó, sa cơ lỡ bước. Những ân nghĩa của ông ban ra làm dân chúng xa gần mến phục. Bà vợ ông là một người phụ nữ thuỳ mị,

Lai Châu27/03/2026Xì Miền Khan (Tổ dân phố Xì Mièn Khan pường Tân Phong)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thành phố Hải Phòng ngày nay là điểm đến hấp dẫn của du khách gần xa, nơi họ có cơ hội chiêm ngưỡng bức tượng nữ tướng Lê Chân tại dải vườn hoa Trung tâm nội đô. Bức tượng cao 6m được chế tác bằng đồng, mang vẻ uy nghiêm và kỳ vĩ. Lê Chân đứng với thanh bảo kiếm bên mình, ánh mắt sáng ngời, hướng về biển Đông, tỏa sức mạnh và sự dũng cảm.

Lê Chân được biết đến là con gái của ông Lê Đạo, một thầy thuốc nhân đức nổi tiếng trong vùng. Bà sinh ra tại làng An Biên (hay còn gọi là làng Vẻn), thuộc phủ Kinh Môn, nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Từ khi còn 16 tuổi, Lê Chân đã nổi tiếng với tài sắc và tay nghề võ thuật xuất sắc, cùng với tinh thần kiên cường phi thường. Trong thời kỳ Thái thú Giao Chỉ tàn ác, sau khi từ chối trở thành tì thiếp của kẻ thù, Lê Chân đã phải trốn chạy đến vùng ven biển An Dương, nơi bà dựng nên lòng thù nhà nợ nước, quyết tâm không bao giờ cam chịu áp bức từ giặc Hán xâm lược.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Chân là một trong những người hùng nổi bật, chỉ huy đội nghĩa binh từ làng An Biên tham gia chiến đấu tại Luy Lâu, vây đánh quân Đông Hán. Cuộc kháng chiến dữ dội, với lửa cháy rực trời và tiếng reo hò của ngựa quân, đã làm bọn giặc bỏ chạy hoảng loạn. Chính quyền đô hộ tan rã, Thái thú Tô Định phải lẩn trốn về phương Bắc, đánh dấu một chiến thắng quan trọng của nhân dân.

Sau khi giành được độc lập, Lê Chân trở thành một lãnh đạo quan trọng trong quân đội giải phóng. Bà được phong 'Chưởng quản binh quyền nội bộ', đóng bản doanh ở Giao Chỉ. Trận đánh chống lại quân Hán tháng 4 năm 42, bà đã dẫn quân ra cự địch, tham gia nhiều trận đánh lớn tại Lãng Bạc, Cẩm Khê, Hát Môn. Đến tháng 5 năm 43, Lê Chân hy sinh dũng cảm tại Lạt Sơn, Kim Bảng, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc.

Để tưởng niệm công ơn của nữ anh hùng Lê Chân, người dân An Biên đã xây dựng đền thờ mang tên đền Nghè, nằm trong danh sách những di tích lịch sử quan trọng của thành phố Cửa Biển.

Hiềm một nỗi hai ông bà tuổi đã cao mà chưa sinh được người con nào để vui cảnh tuổi già hôm sớm. Ông bà đã đi lễ bái, cầu phúc nơi cửa Phật. Nghe tiếng Yên Tử là nơi có ngôi chùa rất linh ứng, dù đường sá hiểm trở, hai ông bà cũng tìm đến tận nơi thành tâm cầu nguyện. Đêm ấy, ông Lê Đạo nằm mơ thấy 2 vị thiên sứ. Một vị mặc áo xanh tay cầm kim mâu, một vị mặc áo tía tay cầm bảo kiếm dẫn ông lên thiên cung. Ông bàng hoàng kinh sợ vội sụp lạy trước một vị đại quan ngồi trong điện, đầu đội mũ bách tinh, mình mặc áo bào vàng. Ở bên trái, bên phải mỗi bên có một vị quan tay cầm giấy bút. Ông văng vẳng nghe thấy lời truyền bảo: "Nhà ngươi có phúc lớn, tiến đến thiên đình. Nay nhân có một tiên nữ phạm lỗi, Ngọc Hoàng sai đày xuống trần 40 năm, cho đầu thai làm con nhà ngươi, sau sẽ làm rạng rỡ gia đình, con trai cũng không sánh kịp". Bỗng chuông trống chói tai làm ông chợt tỉnh, biết là nằm mơ. Vợ chồng ra về. Một buổi sáng sớm, bà Châu đi ra ngoài ấp thì thấy một vết chân lớn, đưa chân ướm thử, thấy người xúc động rồi có thai. Sau 12 tháng, ngày 08 tháng trọng xuân (02) năm Canh Thìn (20) niên hiệu Địa Hoàng nguyên niên đời "Thủy Kiến Quốc Địa Hoàng Thượng Mậu", bà sinh được một con gái má phấn môi son, mày ngài mắt phượng, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Ông bà đặt tên con là Lê Chân.[1]

Bà Lê Chân lớn lên là người có nhan sắc, giỏi võ nghệ lại có tài thơ phú. Một hôm, Thái thú Tô Định, một kẻ tham tàn, bạo ngược "thấy tiền thì giương mắt lên" đi kinh lý qua trang Yên Biên. Nghe kẻ nịnh thần tâu bày về sắc đẹp của nàng Lê Chân, Tô Định bèn dùng quyền thế ép về làm tì thiếp nhưng bị dứt khoát chối từ. Tức tối, Tô Định giết hại cả cha mẹ nàng. Lê Chân phải rời bỏ quê theo Kinh Tây (nay là sông Kinh Thày) xuôi xuống phía Nam, đến vùng Vụ Nông, khu vực ngã ba sông Kinh Thầy, sông Vận và sông Cấm ngày nay (vùng đất Lê Chân lập trang lúc bấy giờ chỉ là một bãi đất phù sa mới bồi lên, lơ thơ mấy khóm cây dại, mấy túp lều tranh của phường chài lưới). Thấy địa hình, đất đai thuận lợi, bà dừng lại lập trại khai phá.Cùng với thân quyến và người làng mà bà cho đón ra, Lê Chân còn phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm và đánh bắt thủy hải sản.Tại đây bà đã chiêu mộ trai tráng để luyện binh và được sự ủng hộ của nhân dân quanh vùng. Binh sĩ của Lê Chân được huấn luyện chu đáo và có sở trường về thủy trận. Năm Kiến Vũ thứ 16 (40) đời Hán Quang Vũ đế, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, bà đã đem theo binh lính gia nhập quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trong các trận đánh, bà thường được cử làm nữ tướng quân tiên phong, lập nhiều chiến công. Đạo quân của Lê Chân từ mạn biển xứ Đông đánh thốc lên Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) - trụ sở quận Giao Chỉ, nơi có bộ máy thống trị của bọn Tô Định, phối hợp với quân của Hai Bà Trưng và các thủ lĩnh nghĩa quân khác, giải phóng quận thành. Tô Định vội vã tháo chạy về đất Nam Hải (Trung Quốc). Sau khi thu phục 65 thành, Tô Định phải lui về nước, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương). Lê Chân được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa, giữ chức Chưởng quản binh quyền nội bộ, đứng ra tổ chức, luyện tập quân sĩ, gia tăng sản xuất..Theo truyền thuyết dân gian, trong các lễ hội, ngày 8 tháng 2 âm lịch là ngày sinh và 25 tháng 12 âm lịch là ngày mất của Lê Chân.

Gần 1.500 năm sau, nhóm ngư dân của trang Yên Biên, tổng Vĩnh Đại, huyện Đông Triều (tương đương với hậu duệ đời thứ 60 của nữ tướng Lê Chân) về vùng ven sông Tam Bạc, huyện An Dương khai hoang lập ấp vào cuối thời Lê sơ, họ không quên nơi chôn rau cắt rốn của mình đã đặt tên mảnh đất này là trang An Biên. Đến đầu thời Nguyễn thì An Biên trở thành đơn vị hành chính cấp xã (làng). Còn làng Vẻn do Lê Chân lập lúc đầu có 18 người, sau thời gian quá dài bị mất tên, nay thuộc khu vực bên triền Hữu sông Cấm thuộc xã Đại Bản, huyện An Dương và bên triền Tả sông Cấm thuộc xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay

Để nhớ công ơn khai khẩn của Bà, Hải Phòng đặt tên một quận mang tên Bà và dựng tượng Bà trước Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật TP. Hải Phòng (quận Lê Chân, trung tâm TP. Hải Phòng); đồng thời, tên của bà được đặt tên cho giải thưởng "Nữ tướng Lê Chân" để trao cho những phụ nữ có thành tích xuất sắc của đất Cảng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
câu chuyện về một anh hùng, danh nhân của nước ta hay nhất - Lê Chân | Câu chuyện thời hoa lửa