câu chuyện về Ngã ba Đồng Lộc và sự hy sinh của 10 cô gái thanh niên xung phong
Ngã ba Đồng Lộc (huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) là tuyến giao thông huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ năm 1964 đến 1972, đặc biệt là năm 1968, nơi đây bị máy bay Mỹ đánh phá vô cùng ác liệt nhằm cắt đứt con đường chi viện cho chiến trường. Trong hoàn cảnh bom đạn khốc liệt, lực lượng thanh niên xung phong cùng các đơn vị khác vẫn kiên cường bám trụ, ngày đêm sửa đường, giữ vững mạch máu giao thông với quyết tâm: “Máu có thể ngừng chảy, tim có thể ngừng đập nhưng mạch máu giao thông không bao giờ tắc”. Ngày 24/7/1968, 10 cô gái thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 do chị Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng nhận nhiệm vụ san lấp hố bom trên đường 15A. Khi đang làm nhiệm vụ, các chị bị máy bay Mỹ ném bom trúng hầm trú ẩn và anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Sự hy sinh của 10 cô gái cùng hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ tại Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường của thế hệ thanh niên Việt Nam trong kháng chiến. Ngày 7/6/1972, Tiểu đội 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Ngày nay, Ngã ba Đồng Lộc là Di tích lịch sử Quốc gia, nơi ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Tôi sinh ra và lớn lên trong những trang sử hào hùng của dân tộc, nơi có những con người đã viết nên những bản anh hùng ca bất tử bằng chính tuổi trẻ, lòng dũng cảm và sự hy sinh của mình. Trong đó, Ngã ba Đồng Lộc luôn là một biểu tượng thiêng liêng về tinh thần bất khuất của lực lượng thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tôi thuộc về vùng đất Ngã ba Đồng Lộc, nay thuộc thị trấn Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây nằm trên đường Hồ Chí Minh, là giao điểm giữa Quốc lộ 15A và Tỉnh lộ 2. Trong những năm chiến tranh, tôi là “yết hầu” giao thông quan trọng nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, nơi vận chuyển sức người, sức của chi viện cho chiến trường. Vì vậy, đế quốc Mỹ đã tập trung đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt tuyến đường huyết mạch này.
Từ năm 1964 đến 1972, tôi phải hứng chịu hàng nghìn trận bom của máy bay Mỹ. Đặc biệt, năm 1968 là thời điểm ác liệt nhất. Trong 240 ngày đêm từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, Mỹ đã đánh phá gần 2.000 lần, trút xuống gần 50.000 quả bom các loại. Bình quân mỗi mét vuông đất nơi đây phải chịu hơn 3 quả bom tấn, khiến tôi từng được gọi là “tọa độ chết”.
Nhưng dù bom đạn có tàn phá khốc liệt đến đâu, những con người nơi đây vẫn không khuất phục. Các lực lượng bộ đội, công an, công nhân giao thông, dân quân, nhân viên y tế, lái xe, thông tin và đặc biệt là lực lượng thanh niên xung phong ngày đêm bám trụ, giữ vững tuyến đường. Mệnh lệnh từ trái tim họ là:
“Máu có thể ngừng chảy, tim có thể ngừng đập nhưng mạch máu giao thông không bao giờ tắc”.
Trong số những người anh hùng ấy, tôi mãi ghi nhớ hình ảnh 10 cô gái thanh niên xung phong thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55. Các chị gồm: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Hà Thị Xanh, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng và Võ Thị Hà.
Ngày 24/7/1968 đã trở thành ngày không thể nào quên trong ký ức của tôi. Hôm ấy, máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống Ngã ba Đồng Lộc. Đúng 12 giờ trưa, 10 cô gái do chị Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng nhận nhiệm vụ ra mặt đường san lấp hố bom, mở đường cho đoàn xe chi viện chiến trường miền Nam.
Dù chưa kịp ăn cơm, các chị chỉ vội chia nhau những nắm mì luộc rồi cầm cuốc, xẻng ra làm nhiệm vụ. Các chị hiểu rằng mỗi phút chậm trễ có thể ảnh hưởng đến con đường chi viện cho tiền tuyến. Với ý chí kiên cường, các chị đào đất, san lấp hố bom để tuyến đường 15A được thông suốt.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi máy bay Mỹ tiếp tục ném bom lần thứ 15, một loạt bom đã đánh trúng căn hầm nơi các chị đang trú ẩn. Cả 10 cô gái đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tinh thần của các chị đã trở thành biểu tượng bất tử của lòng yêu nước và sự quả cảm.
Sự hy sinh của các chị không chỉ là mất mát lớn lao mà còn là nguồn động viên mạnh mẽ cho đồng đội và nhân dân tiếp tục chiến đấu. Câu chuyện về chị Hồ Thị Cúc khiến tôi xúc động mãi. Sau ba ngày tìm kiếm, đồng đội mới tìm thấy chị trên đồi Trọ Voi trong tư thế ngồi, bên cạnh là chiếc cuốc, đôi bàn tay vẫn còn rướm máu vì đã cố gắng đào đất tìm đường thoát.
Nỗi đau ấy đã được nhà thơ Yến Thanh gửi gắm qua bài thơ “Cúc ơi!”, như một tiếng gọi tha thiết dành cho người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Cùng với 10 cô gái thanh niên xung phong, hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất Đồng Lộc để bảo vệ tuyến đường huyết mạch Bắc – Nam. Máu của họ đã hòa vào đất mẹ, viết nên một bản anh hùng ca bất tử.
Ngày 7/6/1972, Tiểu đội 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Ngã ba Đồng Lộc cũng được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia và ngày nay trở thành địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.
Chiến tranh đã lùi xa, những hố bom năm xưa nay đã được phủ xanh bởi cây cối, những con đường mới đã thay thế những tuyến đường đầy khói lửa. Nhưng trong lòng tôi, Ngã ba Đồng Lộc vẫn mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, của tuổi trẻ Việt Nam dám hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Những câu chuyện về 10 cô gái thanh niên xung phong và các anh hùng liệt sĩ nơi đây sẽ mãi được nhắc nhớ như những nén tâm hương tri ân. Thế hệ hôm nay và mai sau sẽ tiếp tục noi gương các chị, giữ gìn và viết tiếp những trang sử đẹp của dân tộc.



