Cựu chiến binh

Câu chuyện về người lính Hà Văn Xám – Hành trình từ bản Poọng Tớ đến chiến trường Lào

Ông Hà Văn Xám, sinh năm 1947 tại bản Poọng Tớ, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, lớn lên trong những ngày tháng đất nước còn chìm trong chiến tranh. Năm 1966, khi mới 19 tuổi, ông cùng bao thanh niên làng bản lên đường nhập ngũ, mang theo niềm tin và quyết tâm bảo vệ quê hương khỏi sự xâm lăng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Sau huấn luyện khắc nghiệt nhưng gắn bó ở quân trường, ông được biên chế vào một trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, sẵn sàng nhận nhiệm vụ nơi chiến trường

Thanh Hóa29/01/2026Hà Văn Xám (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hiền Kiệt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN NGƯỜI LÍNH HÀ VĂN XÁM

HÀNH TRÌNH MỘT ĐỜI VÌ NGHĨA TÌNH VIỆT – LÀO

Ông Hà Văn Xám sinh năm 1947, tại bản Poọng Tớ, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa – một bản làng nhỏ nép mình bên sườn núi, nơi sáng sớm mây còn phủ kín mái nhà sàn, nơi tiếng suối, tiếng chim rừng nuôi lớn bao thế hệ người Thái, người Mường chân chất, giàu lòng yêu nước.

Tuổi thơ của ông gắn với nương rẫy, với những bữa cơm độn sắn, độn ngô, và với những câu chuyện thời loạn lạc được nghe bên bếp lửa. Khi đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt, bom đạn không chỉ rơi ở miền xuôi mà bóng đen chiến tranh đã phủ khắp miền núi, biên giới. Trong những đêm dài, ông Xám nghe các bậc cao niên trong bản nói về cách mạng, về bộ đội Cụ Hồ, về nghĩa vụ của trai bản khi Tổ quốc cần.

LÊN ĐƯỜNG NHẬP NGŨ – RỜI BẢN LÀNG ĐI VÀO LỬA ĐẠN

Đến tuổi mười chín, đôi mươi, ông Xám tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ngày chia tay bản Poọng Tớ, mẹ ông gùi theo nắm xôi nếp, buộc thêm túi muối rang, dặn con:“Đi đâu thì đi, nhớ giữ mình, nhớ đồng đội như anh em ruột thịt.”

Ông khoác ba lô, bước qua con suối đầu bản, không ngoảnh lại, bởi ông biết: nếu quay đầu nhìn lại, lòng sẽ mềm đi mà chân thì không nỡ bước tiếp.

Những tháng ngày huấn luyện quân sự là chuỗi ngày gian khổ: hành quân dài ngày, tập bắn, tập đánh, rèn thể lực giữa nắng gió. Nhưng cũng chính nơi ấy, ông hiểu thế nào là kỷ luật, là đồng đội, là lý tưởng của người lính cách mạng.

SANG LÀO – TRỞ THÀNH NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN

Sau huấn luyện, đơn vị của ông Xám nhận nhiệm vụ lên đường sang chiến trường Lào, tham gia lực lượng quân tình nguyện Việt Nam, phối hợp cùng quân giải phóng Lào chiến đấu chống kẻ thù chung, bảo vệ cách mạng nước bạn.

Hành quân sang Lào là những chặng đường băng rừng, vượt núi, lội suối hàng ngày, gạo mang theo ngày một vơi, áo quần sờn rách. Ban ngày tránh máy bay, ban đêm mới đi. Có những đêm mưa rừng xối xả, đất bám đầy người, súng ướt, chân phồng rộp, nhưng không ai kêu ca.

Đặt chân lên đất bạn, ông Xám mới thấm thía câu nói: “Việt – Lào hai nước chúng ta tình sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long.”

Người dân Lào nghèo nhưng giàu tình nghĩa. Có khi họ chia cho bộ đội Việt Nam từng nắm gạo, từng củ sắn, có bà mẹ Lào lẳng lặng treo ống cơm lam trước lán rồi lặng lẽ quay đi, không nói một lời.

NHỮNG NĂM THÁNG GIỮA CÁNH ĐỒNG BOM ĐẠN

Ông Xám tham gia nhiều trận chiến ác liệt. Địch ném bom ngày đêm, rừng núi rung chuyển, đất đá vùi lấp cả người lẫn súng. Có lần, sau một trận bom, ông và đồng đội phải đào đất bằng tay trần để cứu một chiến sĩ Pathet Lào bị vùi dưới hầm.

Kỷ niệm mà ông nhớ mãi là một lần đưa lương thực và thuốc men tiếp tế cho đơn vị bạn giữa vòng vây địch. Trời tối đen như mực, pháo sáng quét ngang bầu trời. Ông cùng đồng đội cõng từng bao gạo, từng thùng đạn, đi trong im lặng. Khi tới nơi, người chỉ huy Lào siết chặt tay ông, nói bằng giọng run run:

“Không có các anh, chúng tôi không trụ nổi.”

Lúc ấy, ông Xám hiểu rằng: mình không chỉ chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam, mà còn cho tự do của nhân dân Lào, cho tình nghĩa quốc tế thủy chung.

Có những mất mát không thể gọi thành tên. Đồng đội ngã xuống, được chôn vội bên sườn núi, chỉ kịp cắm một cành cây làm dấu. Ông đứng lặng, nước mắt hòa với mưa rừng, tự nhủ phải sống, phải chiến đấu thay phần của những người đã nằm lại.

NGÀY CHIẾN THẮNG VÀ HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ

Khi cách mạng Lào giành thắng lợi, khi đất nước bạn bước sang trang sử mới, ông Xám và đồng đội nhận lệnh rút quân. Chia tay đất Lào, nhiều người dân bạn tiễn bộ đội Việt Nam bằng những cái ôm chặt, những giọt nước mắt không lời.

Trở về quê hương, ông Xám mang theo vết sẹo chiến tranh, mang theo ký ức không bao giờ phai. Ông trở lại làm người dân bản, làm chồng, làm cha, cần mẫn lao động, tham gia công tác địa phương, luôn gương mẫu, sống nghĩa tình.

MỘT ĐỜI NGƯỜI LÍNH – MỘT BÀI HỌC CHO THẾ HỆ SAU

Giờ đây, khi mái tóc đã bạc, mỗi lần nhắc đến Lào, ánh mắt ông Xám vẫn sáng lên. Ông kể cho con cháu nghe rằng: “Chiến tranh là mất mát, nhưng tình người thì còn mãi. Người lính ra đi không phải để được nhớ ơn, mà để thế hệ sau được sống trong hòa bình.”

Cuộc đời người lính Hà Văn Xám là minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước, nghĩa vụ quốc tế cao cả và tình đoàn kết Việt – Lào thủy chung, son sắt – một tình nghĩa được xây bằng mồ hôi, xương máu và lòng tin không gì lay chuyển.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện về người lính Hà Văn Xám – Hành trình từ bản Poọng Tớ đến chiến trường Lào | Câu chuyện thời hoa lửa