Cựu chiến binh

Câu chuyện về những hoạt động cách mạng của du kích Thạnh Lợi

Sự kết hợp giữa lối đánh du kích hiểm hóc này với tinh thần “thoát ly” gia đình quyết tâm bảo vệ quê hương đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Thạnh Lợi đứng vững cho đến ngày giải phóng.

Đồng Tháp08/04/2026Chi đoàn Công an xã Trường Xuân (Chi đoàn Công an xã Trường Xuân, tỉnh Đồng Tháp)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vùng đất Thạnh Lợi (trước đây thuộc huyện Mỹ An, tỉnh Kiến Phong nay là xã Trường Xuân, tỉnh Đồng Tháp) là chiến trường chia cắt đầy cam go, nơi đội du kích địa phương đã viết nên những trang sử oanh liệt bằng ý chí kiên cường và cách đánh mưu trí. Xã Thạnh Lợi nằm sâu trong vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười đã trở thành một "pháo đài xanh" bất khả xâm phạm nhờ ý chí sắt đá của đội ngũ du kích địa phương. Một trong những người chiến sĩ du kích tại địa phương hoạt động từ năm 1968 đến 1977 là ông Nguyễn Văn Yên, sinh năm 1955 (hay còn gọi là chú Út). Chú Út nhớ lại rằng:

Trong thời gian đầu, chú Út cùng nhiều chiến sĩ hoạt động dưới hình thức "mật", làm giao liên, tình báo ngay tại nhà để nắm bắt tình hình kẻ địch, báo động cho lực lượng du kích kịp thời ẩn nấp hoặc phản công trước các cuộc càn quét của địch.

Sau những trận càn quét khốc liệt của địch từ Mỹ Hòa đến cầu Kinh Tứ vào năm 1968, các chiến sĩ đã phải rút sâu vào căn cứ lõm tại rừng tràm Kinh Hội để bảo toàn lực lượng.

Tháng 6/1969, du kích xã Thạnh Lợi đặt mìn tại Kinh Tư Mới, đánh chìm chiếc xà lan chở 02 trung đội địch đi bổ sung quân cho Trung tâm biệt kích Đốc Binh Kiều, gây cho chúng nhiều thương vong.

Ngày 03/9/1969, Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ anh minh của Đảng và dân tộc ta từ trần. Đồng bào chiến sĩ cả nước vô cùng xúc động. Tỉnh ủy Kiến Phong ra thông báo và kêu gọi mỗi đảng viên, đoàn viên, đồng bào chiến sĩ trong tỉnh hãy tỏ lòng biết ơn và thương nhớ Bác bằng hành động cách mạng thiết thực, biến đau thương thành sức mạnh, phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Hưởng ứng lời kêu gọi của tỉnh ủy, biến đau thương thành hành động cách mạng, quân và dân Thạnh Lợi thi đua giết giặc lập công.

Trong năm 1969, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ An được tổ chức tại Cống Kho xã Thanh Mỹ. Đại hội đề ra nhiệm vụ trọng tâm sắp tới là: củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể, phát triển lực lượng võ trang huyện và du kích, đẩy mạnh 3 mũi giáp công[1] tấn công địch giữ vững và mở rộng căn cứ, bám trụ địa bàn, đảm bảo tự túc lương thực theo quy định, tăng cường vận động nhân dân đóng đảm phụ và thuế nông nghiệp…

Năm 1970, để đẩy mạnh chương trình bình định, tại xã Thạnh Lợi địch đóng 02 đồn, 7 tua, duy trì căn cứ Mỹ và 02 giang đoàn (tàu chiến Mỹ) hoạt động ngày đêm trên tuyến kinh xáng An Long và Dương Văn Vương, chúng vừa đánh phá vừa ngăn chặn đường giao liên của ta.

Đến năm 1972, khi cuộc chiến bước vào giai đoạn khốc liệt, chú Út cùng nhiều thanh niên địa phương đã chính thức "thoát ly" để vào đồng, gia nhập trực tiếp vào lực lượng du kích xã. Cuộc sống nơi căn cứ không chỉ đối mặt với bom đạn mà còn là cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt với thiên nhiên. Tại vùng Kinh Hội, nguồn nước bị nhiễm phèn nặngchua chát, không thể dùng cho ăn uống. Để có nước sạch, các chiến sĩ phải bí mật băng qua những đoạn đường nguy hiểm, len lỏi ra các kênh rạch xa hơn để gánh từng đôi nước về phục vụ sinh hoạt và cứu chữa thương binh tại các trạm quân y dọc tuyến Kinh Đường Thét.

Để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược Xuân – Hè 1972, Quân khu 8 tiếp nhận lực lượng chi viện của miền Bắc, phân bổ cho các địa phương, đơn vị. Huyện Mỹ An tiếp nhận 1 đại đội, bổ sung cả lực lượng và trang bị cho địa phương quân huyện.

Trong chiến dịch Xuân – Hè 1972, huyện Mỹ An tuy là hướng phát triển tiến công của tỉnh[2] nhưng Huyện ủy chỉ đạo tích cực hoạt động võ trang phối hợp. Du kích các xã bao vây đồn bót, diệt ác ôn. Địa phương quân huyện pháo kích chi khu quân sự Mỹ An. Bị tấn công đồng loạt, thiệt hại nặng địch đưa quân chủ lực, biệt động, bảo an,…càn quét giải tỏa ở Mỹ An, Cao Lãnh, Hông Ngự; đưa thêm pháo 105 ly đến chi khu Mỹ An, Kiến Văn…Đồng thời tăng cường hành quân cảnh sát, xét hỏi nghiêm ngặt, thực hiện giới nghiêm cấm tất cả mọi người không được ra khỏi nhà từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng, ráo riết đôn quân, bắt thanh niên đi lính.

Từ ngày 1 đến ngày 09/5/1972, tiểu đoàn 3 (chủ lực khu) phồi hợp cùng địa phương quân huyện và du kích các xã bao vây đánh đồn Bà Cò xã Đốc Binh Kiều, đánh (vận động) tiểu đoàn 3 của trung đoàn 11 sư đoàn 7 ngụy tại kinh Bằng Lăng; chận đánh 2 đại đội bảo an quận Mỹ An đi giải tỏa đồn kinh Tám Ngàn; bao vây pháo kích cứ điểm kinh Nhì, căn cứ biệt kích Đốc Binh Kiều…gây cho địch nhiều tổn thất.

Tận dụng thế tiến công, đồng thời thuận lợi chưa từng có, quyết không cho địch có thời gian ổn định củng cố phòng thủ; Thường vụ Tỉnh ủy chủ trương “phát triển tấn công liên tục theo chỉ đạo của cấp trên trong suốt những tháng tiếp theo, nhưng chủ yếu là giành thắng lợi lớn trong tháng A[3], nhằm tạo một sự thay đổi hẳn có lợi cho ta về mọi mặt trên toàn tỉnh”.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, du kích trên địa bàn phối hợp chặt chẽ tấn công 3 mũi và nổi dậy giành quyền làm chủ của quần chúng, ta còn chú trọng xây dựng và phát triển lực lượng. Trong đợt này xã Thạnh Lợi xây dựng, phát triển được một trung đội du kích.

Đợt tấn công và nổi dậy Xuân – Hè (từ tháng 3 đến cuối tháng 7/1972), quân và dân Mỹ An (được sự phối hợp, chi viện của Tỉnh, Quân khu) ta đã phá lỏng thế kềm kẹp của địch trên các tuyến kinh Tư Mới, Kinh Bùi, Kinh Nhì, Kinh Ba, Kinh Bằng Lăng,…; vùng giải phóng được giữ vững và mở rộng thêm nhiều lõm mới ở Đốc Binh Kiều, Mỹ Hòa,…Làm thất bại một bước quan trọng trong âm mưu bình định lấn chiếm của địch.

Giai đoạn từ tháng 1/1973 đến tháng 4/1975 là giai đoạn đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định Paris, giữ đất, mở vùng; tấn công nổi dậy và giải phóng quê hương. Trong thời gian này, thực hiện Chỉ thị của Trung ương Cục, Thường vụ Tỉnh ủy Kiến Phong ra Nghị quyết “Phát động quần chúng tấn công địch 3 mũi kết hợp pháp lý theo phương châm mới trong tình hình có Hiệp định Paris”.

Đến quí I năm 1973 xã Thạnh Lợi có 3 ấp giải phóng hoặc làm chủ về cơ bản.

Nhằm phối hợp với toàn khu Trung Nam Bộ tạo nên sự chuyển biến tình hình một cách căn bản, tháng 10/1973, Thường vụ Tỉnh ủy Kiến Phong ra Chỉ thị số 09, chủ trương mở đợt tấn công tổng hợp mang tên “Bạch Đằng”.

Cao điểm 1 của đợt Bạch Đằng từ 25/9 đến 15/10/1973, quân và dân huyện Mỹ An đã san bằng, bức rút các đồn: Bằng Lăng, Kinh Chà, Kinh Năm,…

Tháng 11/1973 tỉnh Kiến Phong mở tiếp cao điểm 2 của đợt Bạch Đằng. Trong đợt này du kích Thạnh Lợi và các xã Đốc Binh Kiều, Mỹ Qúi, Mỹ Hòa, Thanh Mỹ và thị trấn Mỹ An hoạt động mạnh.

Tháng 5/1974, Trung ương Cục chủ trương giải thể và lặp lại một số tỉnh nhằm tạo điều kiện chuyển thế tấn công, làm chủ của ta ở vùng yếu, vùng có đông đồng bào tôn giáo và tạo sự gắn bó, chi phối giữ các chiến trường Nam-Bắc sông Tiền. Theo đó, tỉnh Kiến Phong giải thể và thành lập tỉnh Sa Đéc và Long Châu Tiền. Huyện Mỹ An[4]thuộc tỉnh Sa Đéc.

Sau những thắng lợi dồn dập của ta ở Tây Nguyên, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, cục diện quân sự chánh trị ở miền Nam đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định, lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 15 và 16/4/1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sa Đéc họp mở rộng khẩn cấp, tập trung thảo luận Nghị quyết đặc biệt và Mệnh lệnh Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục. Hội nghị nhất trí với nhận định thời cơ chiến lược giành toàn thắng cho sự nghiệp giải phòng miền Nam; tình thế và thời cơ trực tiếp giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà đã đến.

11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống ngụy Sài Gòn – Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân cách mạng không điều kiện, mặt trận Sài Gòn toàn thắng. Tại thời điểm này, từ Trung tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy Sa Đéc xuất phát mệnh lệnh tung hết cán bộ, lực lượng ra phía trước, phối hợp chặt chẽ với mũi chánh trị, binh vận nhanh chóng tấn công chiếm đồn bót, áp sát các mục tiêu quan sự quan trọng buộc địch đầu hàng không điều kiện.

Ba mươi năm kháng chiến gian khổ, quyết liệt với thực dân Pháp, đến quốc Mỹ xâm lược cùng bọn tay sai.., quân và dân xã Thạnh Lợi dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết thúc thắng lợi, giải phóng quê hương, góp phần hoàn thành Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày giải phóng nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng ổn định tình hình, tổ chức cho binh sĩ, sĩ quan, nhân viên ngụy quân, ngụy quyền đăng ký trình diện, truy quét tàn quân lẩn trốn, xây dựng lực lượng cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh, thiết lập trật tự xã hội mới, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Chỉ trong một thời gian ngắn quân và nhân dân đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, ổn định một bước tình hình kinh tế, xã hội, xây dựng củng cố lực lượng, thiết lập trật tự xã hội mới.

Đến năm 1977, chú Út mới phục viêntrở về với ruộng đồng, khép lại một chương sử hào hùng của những "biệt kích" vùng Đồng Tháp Mười, hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh với Tổ quốc.

​ Trong những năm tháng chiến đấu của chú Út thì lòng trung thành với Cách mạng còn được thử thách bằng những chuyến băng đồng đầy gian khổ; các chiến sĩ du kích thường xuyên phải đi bộ hàng chục kilomet, vượt qua sình lầy và đồn bốt dày đặc để đến căn cứ Gò Tháp - trung tâm chỉ đạo chiến lược của vùng - nhằm tiếp nhận mệnh lệnh trực tiếp từ cấp trên. Chính sự kết nối bền bỉ này đã giúp phong trào du kích tại Thạnh Lợi luôn giữ vững mạch máu thông tin xuyên suốt những năm tháng ban ngày địch chiếm, ban đêm ta làm chủ.

​ Trên chiến trường, du kích Thạnh Lợi đã nâng tầm nghệ thuật chiến tranh nhân dân bằng những lối đánh mưu trí, đánh vào cả thể xác lẫn tâm lý quân thù. Họ vận dụng triệt để triết lý "một chông ba người": mục tiêu không phải là tiêu diệt gọn mà là làm đối phương bị thương, bởi lẽ "một người bị thương sẽ có hai người khiêng", từ đó làm tê liệt quân số và khiến kẻ địch hoang mang hơn cả cái chết. Đặc biệt nhất là trận địa "đội quân không lương" với loài ong vò vẽ rừng tràm. Các chiến sĩ tỉ mỉ lấy từng dè ong con về treo lên cây để nuôi dưỡng. Khi chuẩn bị chiến đấu để huấn luyện "đội quân" này, họ dùng áo cũ buộc dây treo lên cành cây, liên tục kéo lên kéo xuống để tập cho ong thói quen tấn công điên cuồng mỗi khi có chuyển động lạ. Khi địch lọt vào trận địa, chỉ cần một thao tác giật dây từ xa, đàn ong dữ sẽ lao ra phá vỡ đội hình, đẩy đối phương sa chân vào hầm chông chờ sẵn.Ngoài ong và chông, du kích còn tận dụng vỏ đạn pháo của địch để chế tạo thành mìn, lôi dùng đánh tàu chiến trên kinh rạch.

​ Sự kết hợp giữa lối đánh du kích hiểm hóc này với tinh thần “thoát ly” gia đình quyết tâm bảo vệ quê hương đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Thạnh Lợi đứng vững cho đến ngày giải phóng.

Những người lính du kích năm xưa, dù tuổi đời còn rất trẻ (có người tham gia từ khi mới 13-15 tuổi), đã đối mặt với những thiếu thốn về nhu yếu phẩm và sự đánh phá ác liệt từ máy bay, pháo binh địch.

​ Giai đoạn 1968 - 1977 ghi dấu những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng đầy tự hào của chú Út. Qua lời kể của chú Út, chúng ta có thấy các thế hệ nhân dân yêu nước, lớp lớp cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nối tiếp nhau ra trận, lao vào cuộc đấu tranh anh dũng, không tiếc máu xương, công sức, của cải…vì mục tiêu độc lập, tự do. Những cống hiến của chú Út đã góp phần xây đắp nên truyền thống cách mạng hào hùng, làm rạng danh quê hương đất nước, là hành trang cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


[1] Sau cao trào Đồng Khởi đầu 1960, Khu 8 đã tổng kết thực tiễn từ “mô hình” của Kiến Phong: chánh trị-võ trang, 3 lực lượng chánh trị, võ trang và binh vận cùng tấn công thành 2 phương châm: 2 chân (chánh trị, võ trang), 3 mũi giáp công (chánh trị, võ trang, binh vận) cùng tấn công địch. [2] Điểm của tỉnh là Cao Lãnh, Kiến Văn, Hồng Ngự [3]Thời gian cao điểm thực hiện Chỉ thị [4]Xã Thạnh Lợi thuộc huyện Mỹ An

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Câu chuyện về những hoạt động cách mạng của du kích Thạnh Lợi | Câu chuyện thời hoa lửa