CÂU CHUYỆN VỀ SƠN TON
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Anh hùng Quân đội Sơn Ton sinh năm 1933 tại xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nông dân nghèo người Khmer. Từ thuở nhỏ, ông đã sớm trải qua nhiều vất vả, vừa đi làm thuê phụ giúp gia đình vừa tham gia các hoạt động cách mạng tại xã An Thạnh Nhì, huyện Long Phú (nay là Cù Lao Dung, Sóc Trăng). Với nhận thức sớm về nỗi khổ mất nước và tinh thần yêu nước sâu sắc, ông nhanh chóng trở thành một trong những hạt nhân tích cực trong phong trào cách mạng địa phương.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Sơn Ton tham gia các đội canh gác, phá đường nhằm cản bước quân địch vào phum sóc phá hoại, bắn phá nhà cửa của đồng bào. Lòng dũng cảm, sự quả quyết và tinh thần quyết chiến khiến ông sớm khẳng định vai trò của mình trong phong trào du kích. Vì mong muốn được trực tiếp cầm súng diệt giặc, ông đã khai sinh tăng ba tuổi để đủ điều kiện gia nhập đội du kích. Từ những cơ sở ban đầu, ông đã vận động nhân dân, xây dựng và phát triển được nhiều tổ du kích, góp phần hình thành phong trào chiến tranh du kích mạnh mẽ trong vùng đồng bào dân tộc Khmer.
Đầu năm 1952, tình hình chiến sự tại Long Phú trở nên ác liệt khi địch thường xuyên điều quân cấp tiểu đoàn phối hợp máy bay bắn phá yểm trợ để càn quét. Lực lượng du kích xã bị tổn thất nặng, cuối cùng chỉ còn Sơn Ton và một cán bộ bám trụ. Tuy lực lượng mỏng nhưng hai người vẫn kiên cường chiến đấu, giữ vững phong trào cách mạng. Cuối năm 1952, khi địch mở cuộc càn lớn, ông đã tổ chức gài lựu đạn, dụ quân địch lọt vào trận địa và tiêu diệt được nhiều tên. Chiến công này tạo nên tiếng vang lớn trong nhân dân, làm tinh thần đồng bào phấn khởi, từ đó phong trào du kích xã phát triển mạnh mẽ. Sơn Ton tổ chức thành công 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên luyện tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa phương.
Năm 1953, ông được cử lên đội du kích tập trung của huyện Long Phú để xây dựng cơ sở và phát triển lực lượng ở vùng rộng hơn. Chỉ trong hơn bảy tháng, đơn vị của ông đã tiêu diệt 67 tên địch, bắt sống 100 tên, đồng thời cảm hóa và vận động nhiều binh lính bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Hàng chục thanh niên trong phum sóc nghe tiếng ông mà hăng hái tòng quân. Với thành tích chiến đấu xuất sắc, Sơn Ton được bầu là Chiến sĩ thi đua giết giặc lập công của Phân liên khu miền Tây Nam Bộ năm 1953, được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì và Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.
Năm 1954, ông được cử theo đoàn 12 chiến sĩ thi đua của miền Nam tập kết ra Bắc. Tại đây, Sơn Ton được điều lên Sơn Tây học tập đội hình duyệt binh, chuẩn bị cho ngày Trung ương Đảng trở về Thủ đô. Năm 1955, khi đang giữ chức Tiểu đội trưởng đặc công thuộc Trung đoàn 3 bộ đội miền Tây Nam Bộ, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 8/1955, với những chiến công đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Quân đội, nay là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Kỷ niệm thiêng liêng nhất đối với ông là được gặp Bác Hồ tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955. Trong buổi thảo luận tổ, Bác hỏi về người chiến sĩ dân tộc Khmer được tuyên dương Anh hùng, Sơn Ton đứng nghiêm và thưa: “Dạ thưa Bác, chính cháu là người dân tộc Khmer Nam Bộ”. Bác ân cần hỏi thăm từ cái ăn, cái mặc đến việc học tập và luôn quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Những lời căn dặn, sự gần gũi của Bác khiến ông càng thêm tin tưởng và quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Sau hai năm học tại Trường Lục quân khóa 10, năm 1958 ông được điều về Sư đoàn 338 ở Xuân Mai (Hà Đông) với quân hàm Thiếu úy, giữ chức Trung đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 3. Sau đó, ông chuyển sang công tác huấn luyện bộ đội đi B tăng cường cho chiến trường miền Nam. Đến năm 1975, khi miền Nam giải phóng, ông trở về Quân khu 9, được phân công làm Phó ban Chính sách Tỉnh đội Hậu Giang. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, ông tiếp tục đi theo đơn vị sang Campuchia làm trợ lý chính sách cho Đoàn 978, giúp nước bạn chống lại chế độ diệt chủng Pol Pot.
Cuối năm 1980, ông trở về Tỉnh đội Hậu Giang, đến năm 1983 thì nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Về địa phương, ông vẫn tích cực tham gia công tác xã hội, từng là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh khu vực 3, phường An Hội, quận Ninh Kiều (TP. Cần Thơ), nhiệt tình giúp đỡ hội viên phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống.
Vợ ông, bà Nguyễn Thị Kim Lê — học sinh miền Nam tập kết — tốt nghiệp bác sĩ Trường Đại học Y Hà Nội năm 1963 và cùng ông trở lại miền Nam công tác sau ngày đất nước thống nhất. Bà mất năm 1990 do bệnh cao huyết áp khi đang là Trưởng khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang. Thời điểm đó, ba người con của ông đều còn nhỏ, cuộc sống gia đình vô cùng khó khăn. Nhưng bằng nghị lực và tình thương của một người cha từng trải, ông đã nuôi dạy các con trưởng thành, có gia đình và công việc ổn định.



