Câu chuyện về Thượng tướng Trần Văn Quang
Tên khai sinh: Trần Thúc Kính Bí danh: Bảy Tiến Năm sinh – mất: 1917 – 2013 Quê quán: xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Cấp bậc cao nhất: Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam Chức vụ tiêu biểu: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Thượng tướng Trần Văn Quang là một nhà lãnh đạo quân sự, chính trị xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta. Hơn bảy thập kỷ hoạt động cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và củng cố lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Đồng chí sinh ngày 26 tháng 5 năm 1917 tại xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Nhiều người thân trong gia đình đồng chí đã tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành lý tưởng cách mạng của đồng chí ngay từ khi còn trẻ.
Năm 1935, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng và một năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Với tinh thần nhiệt huyết và năng lực tổ chức nổi bật, đồng chí nhanh chóng trở thành một cán bộ tích cực của phong trào cách mạng. Trong giai đoạn 1938 – 1939, đồng chí là Thành ủy viên Sài Gòn – Chợ Lớn, trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng tại khu vực Nam Bộ.
Do hoạt động cách mạng sôi nổi, đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1939, đồng chí bị bắt lần thứ nhất. Sau khi vượt ngục vào năm 1940, đồng chí tiếp tục được giao nhiệm vụ khôi phục tổ chức Đảng tại Nghệ An. Tuy nhiên, tháng 4 năm 1941, đồng chí lại bị địch bắt và kết án tù chung thân, bị đày đi Buôn Ma Thuột. Dù trong hoàn cảnh lao tù khắc nghiệt, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.
Sau khi được trả tự do vào năm 1945, đồng chí tích cực tham gia chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí liên tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong quân đội và các địa bàn chiến lược. Đồng chí từng giữ các chức vụ Chính ủy Bộ Chỉ huy tiếp phòng quân, Chính ủy Khu IV, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Bình – Trị – Thiên.
Năm 1950, khi Đại đoàn 304 được thành lập, đồng chí được giao giữ chức Chính ủy Đại đoàn và Bí thư Đảng ủy Đại đoàn. Đây là một trong những đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Từ năm 1953, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Trên cương vị này, đồng chí trực tiếp tham gia công tác tham mưu chiến lược cho Chiến dịch Điện Biên Phủ – chiến dịch quyết định làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đồng chí tiếp tục đảm nhận nhiều cương vị quan trọng trong quân đội. Năm 1958, đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Cục trưởng Cục Tác chiến. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí lần lượt giữ các chức vụ lãnh đạo tại Trung ương Cục miền Nam, Tư lệnh Quân khu IV, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị – Thiên, góp phần chỉ đạo nhiều chiến trường quan trọng.
Năm 1974, đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng và tiếp tục giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng. Từ năm 1977, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong giai đoạn 1978 – 1981, đồng chí là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, trực tiếp chỉ đạo nhiệm vụ quốc tế cao cả, góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào.
Năm 1984, đồng chí được phong quân hàm Thượng tướng. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân đội, từ năm 1992 đến năm 2002, đồng chí giữ cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, tiếp tục đóng góp cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng và chăm lo đời sống hội viên trên phạm vi cả nước.
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và công tác, đồng chí được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Ngày 3 tháng 11 năm 2013, Thượng tướng Trần Văn Quang từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 96 tuổi. Sự ra đi của đồng chí để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân cả nước.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Thượng tướng Trần Văn Quang là tấm gương sáng về lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và Nhân dân. Những cống hiến to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng quân đội và bảo vệ đất nước sẽ mãi được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, ghi nhớ.
Sưu tầm



