Cầu Hàm Rồng – Di tích lịch sử hào hùng của nhân dân Thanh Hóa trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược
Ông Giang kể, sau khi tốt nghiệp lớp 10 đã hăng hái lên đường tham gia chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Vào bộ đội, ông là lính trắc thủ ra-đa của Trung đoàn Hàm Rồng và trực tiếp chiến đấu trên đồi C4 với nhiệm vụ bảo vệ cầu Hàm Rồng. 10 năm trong quân ngũ (1965 - 1975) với biết bao kỷ niệm.
Ông Giang kể, sau khi tốt nghiệp lớp 10 đã hăng hái lên đường tham gia chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Vào bộ đội, ông là lính trắc thủ ra-đa của Trung đoàn Hàm Rồng và trực tiếp chiến đấu trên đồi C4 với nhiệm vụ bảo vệ cầu Hàm Rồng. 10 năm trong quân ngũ (1965 - 1975) với biết bao kỷ niệm.
Ông nhớ như in: “Trong ký ức của tôi, Hàm Rồng là một chiếc cầu mang trên mình nhiều kỳ tích mà cho đến nay chưa ai lý giải được hết. Chỉ tính riêng việc cầu Hàm Rồng trụ vững giữa mưa bom bão đạn của giặc Mỹ suốt gần 8 năm trời đã là một kỳ tích thật sự kỳ diệu rồi. Cuộc đời đã dành cho tôi một vị trí của người lính ở Hàm Rồng từ ngày tôi mới vào quân ngũ và giữ tôi ở đó suốt cuộc chiến tranh. Hai chữ Hàm Rồng từng ngày, từng ngày thấm vào cuộc đời, biến tôi thành con người của Hàm Rồng từ lúc nào tôi cũng không biết nữa”.
Đợt oanh kích cầu Hàm Rồng trong hai ngày 3 và ngày 4/4/1965 là cuộc oanh kích đầu tiên của Không quân Mỹ nhằm vào một chiếc cầu kiên cố ở miền Bắc Việt Nam. Đây còn là trận mở màn cho một chiến lược ném bom mới, chiến lược ném bom ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, nơi chúng cho là điểm xuất phát các cuộc tấn công của Quân giải phóng ở miền Nam Việt Nam.
Trong hai ngày 3 và ngày 4/4/1965, quân và dân Hàm Rồng đã tập trung tiêu diệt từng chiếc F105D bổ nhào ném bom vào cầu, bắn rơi 47 máy bay của giặc Mỹ, bảo vệ cầu Hàm Rồng an toàn, lập kỷ lục bắn rơi nhiều máy bay nhất trong trận đánh ở một chiếc cầu mà sau này không ở một chiếc cầu nào có thể đạt được.
Tham vọng biến cầu Hàm Rồng thành “điểm tắc” của nước Mỹ lúc bấy giờ đã tan thành mây khói. Thế nhưng, chúng vẫn không từ bỏ dã tâm đánh phá cầu Hàm Rồng, sau trận đánh ngày 3 và ngày 4/4, chúng lại mở những cuộc tấn công mới, ác liệt hơn.
“Thời ấy, giặc đánh phá ác liệt là vậy, thế nhưng, người lính không biết sợ chết là gì, chỉ có tâm huyết một điều cống hiến cả bản thân để phục vụ Tổ quốc. Tôi vẫn còn nhớ như in, mỗi một trận đánh đi qua, người lính chúng tôi lại rút ra một câu khẩu hiệu vừa để động viên, làm sức mạnh chiến đấu vừa để răn mình” - ông Giang bồi hồi nhớ lại.



