CÂY SỐ 42
Đoạn hồi ức là một câu chuyện đầy tính nhân văn và bất ngờ, kết nối giữa quá khứ chiến trường Điện Biên Phủ khốc liệt với hiện tại hòa bình. Tác giả đã tái hiện cuộc gặp lại sau 30 năm với Apđun Môhamét, một vị khách quốc tế quan trọng, người mà trước kia chính là Benla – một tù binh lê dương người Angiêri từng bị bắt tại đồi A1 (Eliane). Qua những kỷ niệm về chặng đường áp giải tù binh đầy gian khổ trên đèo Pha Đin và biến cố tại cây số 42, hình ảnh người lính Việt Nam hiện lên không chỉ mưu tr
Chiếc máy bay TU.134A lăn những vòng bánh cuối cùng rồi dừng lại ở vị trí quy định. Mấy phút sau chiếc cầu thang đã được đặt xong và cửa máy bay mở rộng. Các vị khách quốc tế xuất hiện trên khung cửa giơ tay vẫy chào đáp lại những cánh tay và những lời reo vui nồng nhiệt của chúng tôi, những người đón khách.
Đó là những vị khách đến dự một cuộc họp quốc tế quan trọng được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng với các bạn trong đoàn ra đón, tôi lần lượt bắt tay các vị khách quý, những nhân vật có tên tuổi, nam và nữ của hai lục địa. Tôi xiết chặt tay một người mặc âu phục xám, dáng cao và mảnh khảnh, có hàng ria đen khá đậm để theo kiểu người Ả Rập và chào anh bằng tiếng Pháp:
- Chúc mừng đồng chí đã đến thăm đất nước chúng tôi.
Người khách nắm chặt tay tôi và thật bất ngờ, anh đáp lại bằng tiếng Việt khá sõi:
- Chào đồng chí! Rất cảm ơn đồng chí đã ra đón chúng tôi. Đồng chí có khỏe mạnh không?
Ngạc nhiên, tôi ôm lấy người bạn quốc tế mà ngay từ câu nói đầu tiên đã tỏ ra am hiểu phong tục Việt Nam.
- Anh nói được tiếng Việt? Hay quá! Anh nói được nhiều không?
- Tàm tạm - Anh bạn nhã nhặn gật đầu, miệng tủm tỉm lộ vẻ hóm hỉnh - Tôi nói còn xoàng hơn mấy cha kia!
Anh hất hàm về phía những người bạn quốc tế đang tíu tít bên những cô phiên dịch và những bạn bè quen thuộc ra đón.
"Chà! Vớ được anh Tây mắm tôm". Tôi hết sức hứng thú trước sự bất ngờ này. Anh bạn mà tôi vừa quen đi trước cùng các đồng chí trong ban chấp hành ra đón. Tôi nhìn anh từ phía sau lưng. Lưng anh hơi còng và lệch vai bên phải. Nhìn kỹ thấy bước chân anh hơi tập tễnh dường như chân trái có tật. Mái tóc đen dài và xoăn của anh đã bạc trắng ở hai bên thái dương. Tôi bỗng mơ hồ như đã gặp anh ở đâu. Nhưng nhớ mãi không ra.
Đêm hôm ấy, trong căn phòng nhỏ trên tầng lầu ba của một khách sạn bên sông Sài Gòn, tôi cứ trăn trở mãi không ngủ được, bâng khuâng nhớ lại cảnh tượng ban chiều.
Đêm về khuya, từng cơn gió mát lạnh từ sông Sài Gòn thổi vào như vuốt ve khiến tôi thấy tỉnh táo hẳn lên.
Bỗng như tia chớp vụt qua, tôi bàng hoàng kêu lên: "Đúng rồi!". Nhưng ngay sau đó tôi lại tự nhủ: "Không làm gì có chuyện như thế! Ở đời thiếu gì người giống nhau!"
Hôm sau, cuộc họp được tiến hành trong một hội trường tráng lệ của thành phố. Tôi ngồi ở chỗ dành cho các nhà báo trong nước được mời. Cả buổi sáng, cả buổi chiều, tôi nhìn lên phía đoàn chủ tịch, mắt lại luôn nhìn anh bạn chiều qua. Rõ ràng anh là một nhân vật quan trọng trong cái tổ chức quốc tế Á - Phi này. Người ta gọi anh một cách trọng vọng là Apđun Môhamét.
Tôi cũng nhận thấy một điều khác lạ. Apđun ngồi trên ghế đoàn chủ tịch, thường đưa mắt nhìn về phía chúng tôi. Cặp mắt nâu hơi sâu và trầm tĩnh của anh như tìm kiếm và khi anh phát hiện ra tôi, dường như cặp mắt ấy ánh lên một nét mừng vui bất ngờ. Khi anh bước lên diễn đàn, giọng nói của anh trầm, ấm và kiên nghị.
... Đoàn kết với Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc, giữ gìn độc lập dân tộc và bảo vệ hòa bình là nghĩa vụ, là tình cảm thiêng liêng...
Phiên họp cuối cùng chấm dứt, tôi đến ngồi trên chiếc sôpha, cạnh một chiếc bồn lớn bằng sứ tráng men xanh, trồng một cây bông sứ.
- Xin lỗi! Tôi muốn nói chuyện với anh, được chứ?
Tôi vội đứng dậy, nắm lấy tay anh, không giấu được vẻ mừng vui:
- Mấy ngày qua anh bận quá. Tôi có một băn khoăn muốn hỏi anh...
Apđun ôm lấy vai tôi nồng nhiệt nói:
- Trời ơi! Chính tôi cũng đang muốn được gặp anh. Tôi cảm thấy rất quen anh, như là đã được gặp anh ở đâu rồi.
Tôi khẽ nắm tay anh:
- Anh cho phép tôi hỏi, trước đây anh đã sang Việt Nam lần nào chưa? Anh học tiếng Việt từ bao giờ mà nói khá thế?
- Tôi sang đây lần này là thứ ba.
- Lần thứ nhất là bao giờ? Hồi chiến tranh chống Pháp, anh có ở đây không?
Apđun nhìn chằm chằm vào tôi, mặt đỏ lên vì xúc động:
- Cuộc chiến tranh Pháp - Việt tôi là lính trong quân đội Liên hiệp Pháp.
Tôi hồi hộp hỏi dồn:
- Anh có dự trận Điện Biên Phủ không?
- Tôi là lính của tiểu đoàn lê dương đóng trên đồi Elian.
- Anh có ở trong đoàn tù binh về Thanh Hóa?
- Có.
- Và, vụ trực thăng ở cây số 42?
Apđun Môhamét bỗng run lên. Ánh mắt nóng bỏng của anh như cắm sâu vào mắt tôi. Trong một thoáng, hình như anh đang cố hình dung ra một bóng dáng xa vời của dĩ vãng. Cặp môi anh mấp máy, rồi anh ôm chầm lấy tôi, kêu lên:
- Mon commandant!1
- Bella!
Bỗng chốc, tôi bật nhớ ra tên anh.
Lúc ấy, vào khoảng ba giờ chiều ngày mồng 7 tháng 5. Tiểu đoàn chúng tôi đã đánh chiếm hoàn toàn cứ điểm A1 mà tướng Đờ Cát gọi bằng cái tên mĩ miều là Êlian, sau một tháng giằng co ác liệt.
Khắp đồi, vang động những tiếng reo hò. Các chiến sĩ nhảy cả lên nóc lô cốt. Giờ cáo chung của tập đoàn cứ điểm đã đến rồi!
Đúng lúc đó hàng loạt tiếng đề-pa của súng cối 120 ly từ Hồng Cúm vèo vèo rít gió, hướng về phía chúng tôi. Tôi chỉ kịp thét:
- Nó bắn đấy! Nằm xuống!
Hàng chục quả đạn cối 120 ly đã ầm ầm quật xuống đồi A1. Tiếng nổ chát chúa như xé tai. Khói đen đặc trùm kín nơi chúng tôi đang đứng. Tiếng kêu thét "Mon Dieu!"1 của mấy tên tù binh lẫn trong tiếng kêu thất thanh của đại đội trưởng Thụy.
Chúng tôi lao vào lô-cốt giam tù binh giữa làn khói bay sặc sụa khét lẹt. Chiếc lô-cốt đã vỡ tung. Một quả đạn rơi giữa căn hầm lộ thiên, giết chết tươi ba tên tù binh. Tên còn lại máu me đầy mặt đang run bắn, nép vào góc tường, giương cặp mắt nâu đỏ dại nhìn chúng tôi, miệng lắp bắp: "Mon Dieu! Mon Dieu!"
Tôi ôm đại đội trưởng Thụy trên tay. Một mảnh đạn đã làm đùi trái anh bị gãy nát và trên bụng anh, máu trào ướt đẫm bàn tay tôi.
Đưa Thụy sang cản hầm khác cấp cứu và tổ chức cáng thương đưa anh về phía sau xong, y tá tiểu đoàn băng bó cho tên tù binh còn sống sót. Nó có vẻ chịu đựng, tự tay xé rộng ống quần để lộ vết thương đỏ lòm. Cặp môi dày của nó mấp máy:
- Merci! Merci bien mon caporal2
Đang cay đắng vì tổn thất bất ngờ xảy ra trước giờ toàn thắng, tôi dằn giọng bảo nó:
- Chúng mày phải chết.
Nhìn nòng súng chĩa vào ngực mình mỗi lúc một gần, tên tù binh bật dậy:
- Mon commandant! Tôi không có tội!
- Không có tội! Mày! Một tên lê dương?
- Thưa ông, tôi đã phản chiến! Tôi đã chạy sang hàng ngũ các ông.
Tôi cười gằn:
- Chúng tao bắt mày tại trận mà mày lại là hàng binh?
Tên tù binh vẫn đứng theo tư thế nghiêm:
- Xin phép ngài thiếu tá được báo cáo!
- Nói đi!
- Thưa ngài thiếu tá! Cách đây ba ngày tôi đã rời khỏi căn cứ này chạy ra rừng để tìm đến hàng quân đội Việt Nam.
Hắn lóng ngóng lần túi trong chiếc áo "bắt gà" rộng lùng thùng rút ra một tờ giấy trắng gấp cẩn thận:
- Thưa ngài thiếu tá! Tôi nhặt được tờ truyền đơn của các ngài cách đây một tuần. Tôi liền đào ngũ chạy ra rừng. Nhưng loanh quanh ba ngày không gặp bộ đội Việt Nam. Tôi lại bị quân tuần tiễu bắt gặp, trả về đại đội. Tôi bị phạt giam ba ngày. Khi các ngài đánh vào, capiten3 buộc tôi cầm súng chống cự. Đúng lúc ấy các ông tràn vào...
Tôi để ý nhìn kỹ tên tù binh: mái tóc đen xoăn tít rối bù, gương mặt đen sạm gầy guộc, cặp mắt nâu trũng sâu, một hàng ria mép đen và chiếc lưng hơi còng. Trông hắn có vẻ thành thật bên trong nỗi mệt mỏi cực độ về thể xác. Tôi hỏi:
- Tên anh là gì? Cấp bậc?
Lập tức, tên tù binh rập gót giày:
- Benla. Binh nhất, thưa ngài thiếu tá!
- Bao nhiêu tuổi?
- Thưa ngài thiếu tá, hai mươi tám.
Tôi ngạc nhiên nhìn hắn. Tưởng hắn phải đến bốn mươi nhăm.
- Không thể tin anh được. Anh bị bắt tại trận với vũ khí trong tay. Anh là tù binh chiến tranh. Ra chỗ kia tập trung.
Tên tù binh chớp cặp mắt mệt mỏi, cúi đầu bước theo một chiến sỹ, dáng đi lộ vẻ nhẫn nhục.
Ba ngày sau, tiểu đoàn chúng tôi nhận được một lệnh khá đặc biệt "áp tải hai nghìn tù binh Pháp về hậu phương Thanh Hóa". Với yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ số tù binh không được để hao hụt, đào ngũ dọc đường.
Một buổi chiều, từ chỗ trú quân ven đường gần ngã ba Tuần Giáo chúng tôi dẫn tù binh vượt đèo Pha Đin. Đó là một cái đèo nổi tiếng vì độ cao, độ dài và khó đi, là nỗi gờm sợ của những chàng lái xe kéo pháo.
Vượt qua mấy đoạn đèo, đoàn tù binh đuổi kịp một đơn vị nữ thanh niên xung phong cũng trên đường trở ra. Các cô đều mặc quần đen, áo sơ mi xanh màu lá, dép lốp, mũ nan, gài lá nguỵ trang. Nhiều cô khoác tấm vải dù hoa, một kỷ niệm kiêu hãnh của người ở chiến trường trở về. Cô nào cũng gồng gánh nhưng xem ra chẳng có gì là nặng. Khác hẳn những ngày trước đây, các cô nhìn toán tù binh dài dặc vượt qua bằng ánh mắt thản nhiên, tò mò, thích thú và khinh thị. Những tiếng nói lao xao trong trẻo cất lên giữa lưng đèo lạnh ngắt:
- Khiếp, trông chúng nó kinh kinh là! Bây giờ em mới nhìn thấy tận mắt đấy.
- Eo ơi! Chúng nó hôi quá!
- Các anh ơi! Cho chúng em mỗi đứa một thằng về kéo cầy nhé. Trâu nhà em tàu bay nó bắn chết rồi.
- Ơ hò... Bộ đội mà gặp dân công... Ai đi hò lơ
Như anh gặp chị... ai đi hò lờ
Như ông gặp bà... Hò lơ ới lơ, lắng tai nghe chúng tôi hò lờ.
Tiếng ồm ồm của một cậu nào bỗng cất lên nghịch ngợm khiến quang cảnh trở nên nhộn nhạo. Khắp hàng quân ran ran tiếng cười nói, tiếng đùa cợt, tán tỉnh của các chàng lính trẻ. Các cô gái cười như nắc nẻ, dúi đẩy nhau, đấm vai nhau thùm thụp.
Một cô gái đi sau, sát vệ đường lấy sức bước lên một hòn đá. Bất ngờ cô trượt chân ngã quỵ xuống. Chiếc ba lô mắc ở phía sau đòn gánh bật ra, lăn xuống dốc núi dựng đứng. Cô gái kêu lên một tiếng hoảng hốt, đứng ngẩn nhìn theo chiếc ba lô chưa biết xử trí ra sao... Giữa lúc mọi người đi trước chưa biết làm gì thì trong đoàn tù binh, một người đã tự động tách khỏi hàng và lao theo chiếc ba lô. Chỉ một phút sau anh ta đã leo lên và đặt chiếc ba lô trước mặt cô gái miệng lúng búng.
- Của cô... xin chào! Cám ơn...
Trước vẻ bỡ ngỡ và có chiều ngượng ngập của cô gái, anh ta chạy vội về hàng của mình.
Việc nhỏ đó cũng đủ là đề tài câu chuyện kéo dài trong chặng đường vượt đèo. Khi cậu liên lạc láu táu kể cho tôi nghe, tôi nảy ra ý tò mò muốn biết mặt người tù binh đó. Tuy trời đã nhá nhem tối nhưng tôi cũng còn nhận ra một dáng hơi quen. Vừa đi bên cạnh anh ta, tôi hỏi:
- Anh đã giúp đỡ một người của chúng tôi. Thế là tốt.
Người tù binh ưỡn ngực nhưng vẫn bước:
- Xin cám ơn ngài thiếu tá!
- Tôi trông anh hơi quen.
- Thưa ngài thiếu tá! Tôi đã được hân hạnh gặp ngài trên đồi Êlian sau khi pháo của quân đội liên hiệp Pháp đã giết hại mấy đồng đội của tôi.
- A! Tôi nhớ. Benla, đúng tên anh vậy không?
Mấy tên tù binh đi bên cạnh Benla nhìn anh ta bằng cặp mắt ghen tị. Benla lộ vẻ vui sướng nhưng giọng vẫn điềm đạm:
- Rất cảm ơn ngài thiếu tá.
Rồi một đêm đã khuya, bọn tù binh được lệnh nghỉ chân tại ven đường. Trăng rừng hắt ánh sáng xanh xao lên mọi người khiến mỗi khuôn mặt đều trở nên gầy võ. Tôi ngồi bên cạnh một thân cây đổ, tình cờ lại ở ngay cạnh người tù binh có tên là Benla. Đến nay, anh ta vẫn nhận mình là hàng binh.
Khi tôi châm một điếu thuốc Cẩm Thủy và rít một hơi, qua ánh lửa, tôi nhìn thấy vẻ thèm thuồng trên ánh mắt Benla đang nhìn chằm chặp vào điếu thuốc. Nhưng Benla không xin. Tôi biết anh ta đang phải chịu đựng sự dày vò ghê gớm. Tôi chỉ còn điếu ấy là cuối cùng, liền đưa cho anh ta:
- Anh cầm lấy mà hút.
Người tù binh gần như vồ lấy điếu thuốc, miệng nói:
- Rất cám ơn ngài thiếu tá!
Im lìm độ vài phút, bỗng người tù binh lên tiếng, giọng rụt rè:
- Xin phép ngài thiếu tá
- Anh muốn hỏi gì?
Giọng anh ta đắn đo:
- Tôi xin được ngài thiếu tá giải thích cho về hội nghị Giơnevơ hiện nay đến đâu rồi? Liệu có thể chấm dứt chiến tranh được không?
Tôi ngạc nhiên về những câu hỏi của người tù binh và bỗng thấy có cảm tình với anh ta. Tôi nói vắn tắt diễn biến mới nhất của hội nghị mà tôi nghe được qua bản tin của sư đoàn, nói rõ lập trường của phái đoàn ta và quan điểm phản động của Bidault, ngoại trưởng Pháp.
Nghe xong, người tù binh thở dài:
- Bidault là một con lừa! Ông ta muốn tiếp tục chiến tranh bằng máu của chúng tôi, những binh lính thuộc địa.
- Anh là người nước nào?
- Thưa, tôi là người Angiêri.
- Trước kia, anh làm nghề gì?
- Thưa, tôi dạy học. Tôi dạy văn tại một trường trung học ở Orăng.
- Tại sao anh lại vào lính lê dương?
- Đó là bi kịch lớn nhất của đời tôi, thưa ngài.
Tôi là con cả trong một gia đình đông con. Cha tôi có nợ nần, quá hạn không trả được, bị người ta đưa ra tòa. Nước Pháp mộ lính lê dương, hứa hẹn rất nhiều quyền lợi hấp dẫn: "Đấy chỉ là một cuộc du lịch sang xứ nhiệt đới châu Á không mất tiền". Và điều quan trọng là họ ứng trước một khoản tiền. Tôi lại bị sa thải vì bị coi là có những quan điểm quốc gia quá khích. Vì thế, tôi đánh canh bạc liều, kết quả thật là bi đát. Chúa đã trừng phạt tôi.
Tôi còn giải thích thêm cho anh ta về hoàn cảnh của Tổ quốc anh và nói về chỗ đứng của anh đáng lẽ phải có ở chỗ nào. Anh ta chỉ im lặng ngồi nghe. Một lát, anh đứng nghiêm trước mặt tôi:
- Thưa ngài thiếu tá! Cho phép tôi được hân hạnh biết tên tuổi của ngài.
- Ồ! Anh hỏi để làm gì?
- Thưa ngài, tôi đã có sự ngộ nhận về những sĩ quan Việt Nam. Bộ chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp tuyên truyền rằng, cán bộ Việt Minh là những người nhà quê, không biết chữ và hoàn toàn dốt nát về tri thức quân sự.
Tôi phì cười, châm biếm:
- Như đã được chứng minh ở Điện Biên Phủ phải không?
Người tù binh không cười:
- Thưa ngài thiếu tá, Coócnây đã viết "La valeur n'attend point le nombre des années"1. Các ngài đã chứng minh hùng hồn như vậy.
- Anh thuộc Le Cid2 đấy nhỉ?
Benla lại rập gót giày:
- Rất cảm ơn ngài thiếu tá về lời khen. Tôi là giáo viên dạy văn học cổ điển Pháp.
- Thế mà anh lại đi cầm súng đánh thuê. Tôi mong rằng lần này thoát được về quê hương, anh lại có chỗ đứng trên bục giảng.
Người tù binh cúi đầu:
- Rất cám ơn ngài thiếu tá.
Cuộc hành quân của chúng tôi mỗi ngày một trở nên khó khăn. Đêm nào, tù binh cũng đào ngũ hàng chục đứa, mặc dù chúng tôi đã nát óc tìm mọi biện pháp ngăn ngừa. Cứ khoảng mười, mười một giờ đêm bọn tù binh giở trò. Chúng lén đổ gạo đi để khỏi phải mang, chui vào rừng đánh một giấc, để rồi sáng mai, leo lên những ngọn núi phía tây, tìm đường chạy sang Lào. Chúng mò vào nhà dân, bắt gà lợn, hiếp phụ nữ, đã có tên bị dân quân trong bản bắn chết.
Tôi đã quan sát, phát hiện ra có một trung đội toàn người Bắc Phi là tỏ ra khá nhất. Sau mười lăm ngày hành quân số quân của trung đội này vẫn đầy đủ. Họ ít nói, có ý thức giúp đỡ nhau, ở mỗi nơi trú quân thường đóng riêng ra một chỗ. Tôi biết ý chí hồi hương của học rất mãnh liệt. Trong trung đội đó có người tù binh Benla.
Một đêm đi qua Mộc Châu. Trời cuối tháng đã tối, lại càng tối thêm bởi những vách đá sừng sững hai bên đổ bóng xuống mặt đường, về sáng sương mù lạnh ngắt rắc đầy như mưa bụi, nhỏ lộp độp xuống những tàu lá chuối rừng. Tôi có việc bận họp ở trung đoàn nên phải đuổi theo đơn vị. Trên khúc đường quạnh quẽ thấp thoáng trong sương lạnh một bóng người cao lênh khênh hai tay chống hai chiếc gậy dài, đang tập tễnh lê từng bước chân nặng nề với dáng vẻ hết sức nhẫn nại. Trong cái vắng vẻ đến rợn người, tôi nhận ra một tù binh liền bước lên ngang anh ta hỏi:
- Anh ở "công voa" nào? Sao lại tách ra khỏi hàng?
Giọng người tù binh bỗng có vẻ mừng rỡ:
- Thưa ngài thiếu tá, tôi bị ốm quá nên không theo kịp công-voa. Tôi đã được ông đại uý cho phép đi chậm suốt đêm.
Hóa ra là Benla. Chạnh lòng, tôi hỏi:
- Sao anh không nhờ đồng đội dìu đi hay nằm cáng trên một đoàn đường. Tôi đã ra lệnh cho tù binh phải mang theo băng ca cơ mà?
Benla lắc đầu quầy quậy, giọng đầy bi thảm:
- Thưa ngài thiếu tá, tôi ốm đã ba ngày nay nhưng tôi quyết không bỏ công-voa, bởi vì tôi phải sống, phải về được Tổ quổc tôi dù có phải bò đi nữa. Đồng đội cũng có giúp đỡ tôi, nhưng họ cũng đã quá mệt nên tôi quyết định tự mình phải cố gắng là chính. Đêm qua, thấy tôi đi tụt lại sau, một ông đại úy thương tình chỉ định mấy đứa dìu đi. Nhưng khi vắng mặt săngtinen1, mấy thằng người Ý này chửi rủa đấm đá tôi thậm tệ. Tôi đã phải van lậy chúng nó để cho tôi đi một mình. Vâng, thưa ngài thiếu tá, tôi thấy khổ quá, nhiều lúc muốn chết cho đỡ cực nhưng rồi tôi lại cố đến kiệt sức. Tôi phải sống bằng mọi giá. Dù có què quặt về được đến quê nhà gặp lại những người thân, và nếu có thể thì đem hết sức còn lại làm được một việc gì có lợi cho sự giải phóng của Tổ quốc tôi. Sáng nay, tôi lại đi vượt qua cả công-voa vì không tìm thấy biển cắm. Những thằng nằm lại đêm qua, sáng dậy đã đi trước tôi. Chúng lột hết biển cắm, cuốn hút thuốc lá, thành ra tôi cứ lê từng bước đi suốt ngày, mãi chiều nay mới gặp lại công-voa.
Rồi Benla kể lại cảnh mấy thằng tù binh người Tây Ban Nha và Anh khiêng cáng anh ta hồi đêm.
Khi thấy Benla quá ốm, hai chân sưng vù, quấn đầy giẻ rách mà vẫn tập tễnh cố bám theo đoàn, đại đội trưởng Lâm liền giữ hai tên tù binh cao lớn còn khá khỏe mạnh, đang vác chung một chiếc băng ca đan bằng nứa, do bộ đội ta làm cho:
- Các anh hãy khiêng người này!
Hai thằng làu bàu trong cổ họng, tỏ ý không muốn làm. Một thằng gân cổ lý sự:
- Nhưng thưa ông đại úy! Tôi phải khiêng nó thì tôi ốm có đứa nào khiêng tôi không?
Đã biết đặc tính chúng, đại đội trưởng Lâm sẵng giọng:
- Chấp hành mệnh lệnh!
Miễn cưỡng, hai thằng đặt chiếc băng ca xuống. Benla lập cập nằm vào cáng, miệng lẩm bẩm: "Merci! Merci bien, camarades"2.
Đại đội trưởng Lâm đi kèm theo chúng một quãng rồi vượt lên đầu hàng quân.
Hai tên tù binh khiêng cáng cố ý chùng chình đi chậm rồi tụt lại sau cùng. Khi đường đã vắng không còn bóng người, hai thằng bắt đầu xỉ vả người nằm trong cáng.
- Thằng chó đẻ! Mày là mọi đen mà dám bắt chúng tao phải hầu hạ à?
- Chết mẹ mày đi! Đồ dòi bọ! Mày không đáng sống
Chúng trao đổi với nhau bằng thứ tiếng lóng mà Benla không hiểu được. Đến một lùm cây rậm bên đường, hai thằng dừng lại cùng hô: hai, ba! Rồi thẳng tay, quăng luôn cả cáng lẫn người xuống khe núi. Xong việc, chúng thản nhiên cười hềnh hệch, xoa tay đi thẳng.
Phúc cho Benla! Chiếc cáng rơi trúng bụi cây sim mua rậm rạp nên vướng lại. Benla bị hất văng xuống đất. Choáng váng, anh cố hết sức thu tàn lực bò dậy, quờ quạng tìm hai cái gậy của mình và bò lên đường, người ướt đẫm nước khe và nước mắt. Anh lại tập tễnh bước đi với đôi chân sưng phù quấn giẻ rách, rát bỏng như kim châm.
- ...Thưa ngài thiếu tá, tôi căm thù chúng nó. Chúng nó là lũ lang sói không có một chút tình người.
- Tôi sẽ tìm ra hai tên ấy và sẽ trừng phạt chúng. Tôi sẽ ra lệnh cho chúng phải khiêng anh.
- Xin đa tạ ngài thiếu tá. Nhưng xin ngài đừng ra lệnh cho chúng. Nhất định chúng sẽ giết tôi.
Người tù hàng binh đã bình tĩnh trở lại, nói với tôi bằng một giọng van lơn và cả quyết.
Tôi bảo anh ta dừng lại, tìm chỗ ngủ đêm nay, rồi bấm đèn pin, xé một tờ giấy trong quyển sổ tay, viết nhanh:
"Ban chỉ huy tiểu đoàn... cho phép tù binh này được đi riêng ban ngày trên đường 41. Đề nghị đơn vị không bắt giữ anh ta".
Tôi ghi họ tên, chức vụ của mình, ký tên rồi đưa cho anh ta:
- Cầm giấy này mà đi. Mệt quá thì cứ nghỉ. Buổi sáng thì cố tìm về đơn vị còn có cái mà ăn. Hôm nay, anh nhịn cả ngày à?
Tôi bảo cậu liên lạc đưa cho anh ta gói xôi lạc, suất ăn của cả hai người.
Từ mấy ngày nay, một chiếc Michel bay dọc đường cái 41. Chúng đã đánh hơi thấy bọn tù binh, do những tên đào ngũ lên núi, đốt lửa, vẫy khăn làm hiệu.
Bộ Tư lệnh sư đoàn lệnh xuống: "Phải đặc biệt đề phòng khả năng địch ném bom vào đội hình quân ta và đổ trực thăng đánh cướp tù binh, nhất là bọn sĩ quan. Nghiêm trị bọn phá rối!"
Sự phiền phức xảy ra ở cây số 42 trên đường từ Mộc Châu về Suối Rút.
Trưa hôm ấy, đoàn tù binh trú quân trong một cánh rừng rậm bằng phẳng phía tây đường. Tù binh đã nấu nướng, cơm nước xong. Nhiều tên đã lăn ra ngáy khò khò. Nhiều đứa đi tắm dưới con suối trong vắt. Trên mặt đường, ở khu vực các đại đội đều có cắm những tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ: "1er convoi" - "2ème convoi"... Lác đác vẫn còn những tên tù binh đến chậm. Đã quen lệ, chúng nhòm vào từng tờ giấy nhận ra đơn vị của mình liền phởn phơ tìm đến nơi.
Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng trú quân gần đấy, phía đầu dòng suối.
Khoảng 1 giờ trưa, có tiếng máy bay từ hướng đông nam vẳng lại, nghe mỗi lúc một gần. Trong nháy mắt, chiếc Michel bay sạt ngọn cây, to như một chiếc phà, phơi cái bụng xám mốc. Một phút sau, nó bay quành trở lại và lượn những vòng rất thấp gần chạm ngọn cây quanh khu vực trú quân. Tiếng rít rú của động cơ dội vào vách núi gây nên một không khí hết sức căng thẳng. Thật không thể tưởng tượng được! Hàng trăm tên tù binh, như có ma lực hấp dẫn, bỗng chồm dậy, la hét, reo hò loạn xạ. Chúng leo lên cây cao, chạy lên mặt đường cái, tung khăn, vẫy mũ. Những đám khói từ đâu ùn bốc lên cao. Bọn tù binh có nguy cơ nổi loạn!
Chiếc Michel như đã phát hiện ra mục tiêu, lượn những vòng rất hẹp chung quanh nơi trú quân. Bỗng từ bụng nó, tung ra hai chiếc dù trắng, treo lủng lảng mấy chiếc hòm nhỏ. Rồi nó cất lên cao, bay mất hút về phía đông nam.
Tôi cùng một tổ trung liên chạy lên mặt đường 41 và vận động lên một quả núi trọc cao nhất gần đấy ở phía đông đường. Giữa lúc ấy, lại thấy một chiếc trực thăng từ đâu phành phạch bay tới. Nó lượn quanh ngọn núi mà chúng tôi đang vận động lên, gần như treo tại chỗ rồi hạ thấp dần. Một chiếc thang dây tung ra, lủng lẳng. Trong khoang chiếc trực thăng, mấy cái đầu thò ra ngoài nhìn xuống.
Gần tới đỉnh đồi, tôi đã nhìn thấy một cảnh tượng gay cấn đang diễn ra: bốn tên tù binh đang lao vào một chiến sĩ ta đang cầm một con dao trong tay. Tôi nhận ra chiến sĩ nuôi quân ở tiểu đoàn bộ. Hai tên xông vào giằng được con dao và thẳng cánh đâm vào bụng anh chiến sĩ. Cậu này tránh được mấy đòn ác hiểm, nhưng nhát đâm cuối cùng làm anh ngã xuống. Đúng lúc tên tù binh giơ con dao định đâm bổ xuống thì khẩu trung liên đã rít lên. Chiếc trực thăng chòng chành rồi hốt hoảng vụt lên cao, kéo theo chiếc thang dây đung đưa, bỏ lại dưới bụng nó mấy tên tù binh với khoảng cách chừng vài ba thước.
Ba tên tù binh thấy nguy, liền lao đầu chạy tuột xuống sườn núi phía tây, thoát khỏi tầm đạn và nhanh chóng mất hút trong rừng rậm bạt ngàn.
Cùng lúc ấy, từ sườn núi, có hai người nữa chạy lên, tay xách súng các bin. Đó là hai cô ở đội thanh niên xung phong. Tôi nhận ra, một trong hai người con gái ấy là người đã bị ngã ở đèo Pha Đin và được người tù binh nhặt giúp chiếc ba lô đưa trả với vẻ lịch thiệp. Từ xa, các cô gái hỏi gấp:
- Các anh ơi! Cho chúng em chiến đấu với!
Ngẫu nhiên, hai tốp chúng tôi cùng lao tới tên tù binh còn lại đang đứng đờ ra như một xác chết. Cô gái có mái tóc cắt ngắn vội chạy tới đỡ người chiến sĩ dậy. Máu loang ra thấm đỏ tay cô.
Bừng bừng nổi giận, tôi chạy tới sau lưng tên tù binh túm cổ áo nó lắc mạnh rồi xoay mặt nó quay lại. Tôi sững sờ:
- Benla! Té ra lại là mày à? Mày trả ơn chúng tao như thế này phải không? Thằng chó chết!
Tên tù binh Benla rũ ra như con gà bị cắt tiết, chân tay run lẩy bẩy, hai chiếc gậy rơi xuống đất.
- Thưa ngài thiếu tá! Xin tha tội cho tôi. Chúng nó rủ rê, cưỡng ép tôi. Nếu không, chúng giết...
Tôi cười gằn:
- Rốt cuộc, mày là một thằng lê dương mạt hạng! Tao phải bắn mày vì tội phá rối cuộc hành quân và hành hung chiến sĩ của chúng tao.
Tên tù binh ngã quỵ xuống, oà lên khóc:
- Thưa ngài thiếu tá! Ngài cứ bắn tôi đi! Vâng! Vâng! Tôi là kẻ đào ngũ! Tôi đã theo chúng nó. Trời ơi! Tôi chỉ muốn sống được trở về quê hương sớm ngày nào hay ngày ấy. Tôi đã nghe chúng nó. Tôi có tội với các ngài. Vâng! Xin ngài cứ bắn tôi đi!
Những giọt nước mắt đùng đục chảy trên khuôn mặt hốc hác của hắn lúc này không làm tôi động tâm. Tôi nhìn cậu chiến sĩ nuôi quân. Cô gái đã băng bó cho anh xong và đặt anh nằm nghiêng trên vạt cỏ. Cảm giác vừa phẫn uất, vừa cay đắng nghẹn ứ trong lòng tôi. Tôi đã bị tên tù binh phản bội. Tôi thật quá ngây thơ khi tin rằng ở trong trái tim một tên lê dương, lại có một ngọn lửa khao khát chính nghĩa đang bùng cháy. Chung quy chó sói vẫn là chó sói. Tôi rút khẩu súng ngắn ra, lạnh lùng:
- Cầu Chúa đi!
Tên tù binh ngước nhìn tôi với vẻ tuyệt vọng, nhưng không khóc nữa. Nó quỳ xuống, tay làm dấu thánh giá:
Hồng - cô gái có mái tóc ngắn - rụt rè lên tiếng:
- Em có ý kiến! Xử nó thế nào thì tuỳ các anh. Nhưng thằng này, em thấy nó ốm quá, mà suốt tuần qua, ngày nào chúng em cũng thấy nó chống gậy lần đi. Cái thằng đâm anh bộ đội là thằng có râu quai nón màu râu ngô kia! Nó chạy thoát rồi.
- Làm sao cô biết? Không chạy trốn mà nó ở đây à?
- Cách đây một giờ, em trông thấy mấy đứa dưới đường. Thấy chúng nó đông, em vội nấp vào bụi. Em thấy ba thằng kia xì xồ gì với thằng này như chúng nó cãi nhau, rồi chúng kéo thằng này lên núi. Khi nghe có tiếng trực thăng, em gọi được cái Soan chạy lên, chính mắt em nhìn thấy thằng râu xồm xông vào đâm anh bộ đội.
Trong lòng tôi lúc này có sự giằng co dữ dội. Một mặt là những tên tù binh cực kỳ ngoan cố đã cố tình phá hoại cuộc hành quân, chỉ điểm cho máy bay địch, và nghiêm trọng hơn là chúng dám hành hung cả chiến sĩ ta. Tội ấy đáng phải xử bắn để răn đe những đứa khác. Tên tù binh này phải đền tội.
Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì nó đã nói với tôi trong suốt chặng đường. Tôi hình dung vẻ mừng rỡ của bố mẹ nó khi thấy nó đột nhiên bước vào nhà, thấy sự hoan hỉ của những đứa học trò trong một lớp học nào đó ở trường trung học Orăng xa xôi khi thấy nó xuất hiện trên bục giảng. Biết đâu, nó chẳng có thể trở thành người cầm súng trong vùng chiến khu nào đấy của Tổ quốc nó. Nó có thể trở thành người có ích cho đất nước đang còn nô vong của nó chăng? Bắn hay tha?
Y tá tiểu đoàn đã chạy lên và cùng mấy chiến sĩ dìu cậu anh nuôi lần xuống núi. Thở dài, tôi nhét khẩu súng vào bao:
- Tạm tha cho mày! Tội trạng sẽ xét sau, về ngay công-voa.
Tên tù binh đứng nghiêm chào tôi, rồi tần ngần một giây hắn bước đến trước mặt Hồng, cô gái vừa lên tiếng xin tha cho nó, cúi rạp đầu, cung kính nói bằng tiếng Việt:
- Merci bien!... cám ơn cô... cám ơn lắm lắm!
Khi tên tù binh ngước nhìn cô gái, tôi cảm thấy ánh mắt anh ta trở nên hiền dịu, ấm áp khác thường, khiến cô gái, bắt gặp cái nhìn ấy, củng phải ngượng ngập, quay mặt đi...
Ít ngày sau, đoàn tù binh về đến Thanh Hóa.
Đại đội nữ thanh niên xung phong cũng cùng về nơi tập kết tù binh và tổ chức lại thành những tiểu đội cấp dưỡng, với nhiệm vụ nuôi bọn tù binh, chờ ngày trao trả cho đối phương.
Tiểu đội nữ do Hồng, cô thanh niên xung phong làm tiểu đội trưởng được phân công nấu ăn cho hai trăm tù binh. Nhà ở, nhà ăn đều là nhà dân. Vì thế, nỗi vất vả của chúng tôi và ban quản lý tù binh tăng lên gấp bội.
Tù binh được cắt phiên nhau xuống giúp nhà bếp. Chúng vui sướng như điên với công việc này vì được nhìn các cô gái, được ăn vụng thực phẩm các cô mua về như cá, đậu và nhất là thịt trâu, thịt bò. Chúng rút dao găm lén cắt từng miếng thịt sống đút vào túi quần "bắt gà" rồi lỉnh ra một chỗ xẻ thành từng miếng nhai ngấu nghiên.
Một buổi sáng, tôi xuống kiểm tra nhà bếp của đại đội Hai. Mấy tên tù binh đang huỳnh huỵch bổ củi bên cái giếng to giữa sân đình, Benla đang thả gàu múc nước. Anh ta không múc bằng cái khau làm bằng mo cau mà bằng cả chiếc thùng gánh nước, kéo lên một cách nhẹ nhàng. Bên cạnh anh ta, Hồng tay áo xắn đến khuỷu, đang vùi hai cánh tay vào chiếc chậu gỗ cực lớn vo gạo. Dáng điệu anh tù - hàng binh từ tốn và rõ ràng tỏ ra ngoan ngoãn khi cô gái lắc đầu, hất mái tóc xoã che lấp khuôn mặt rám nắng. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng nói của mỗi người, bằng những cử chỉ và cả bằng mắt. Thỉnh thoảng, cô gái lại cười như nắc nẻ.
Tôi bước tới, lên tiếng:
- Chào cô Hồng! Thế nào? Benla, anh khỏe chứ?
Benla buông thùng, ưỡn ngực đứng nghiêm:
- Xin chào thiếu tá! Rất cảm ơn ngài.
- Cô nói chuyện gì với anh ta thế?
Cô gái bỗng đỏ mặt, ngượng nghịu bê thùng gạo ướt sũng đứng lên:
- Em đang tranh thủ dậy anh ta học nói đấy!
Cô gái đi rồi, Benla vẫn đứng nghiêm bên giếng nước nhưng ánh mắt đuổi theo cô gái. Mỉm cười, tôi hỏi:
- Benla, nghỉ! Cho phép anh ngồi xuống đây. Anh thấy cô gái Việt Nam của chúng tôi thế nào?
Benla xin phép ngồi bệt xuống sân gạch. Giọng anh ta trầm trồ:
- Tuyệt vời! Thưa ngài thiếu tá! Cô gái này đã cứu tôi thoát khỏi tử hình - anh ta cười ngượng ngập - tôi suốt đời biết ơn cô ấy.
- Anh thấy cô ấy thế nào?
- Một cô gái vị tha, hiền dịu và xinh đẹp, thưa ngài thiếu tá. Phụ nữ Việt Nam rất đẹp. Cô ấy giống như những cô gái đẹp nhất xứ tôi.
Hơn một tháng sau, thực hiện hiệp định Giơnevơ, chúng tôi đưa đoàn tù binh lúc này đã lại sức ra bãi biển Sầm Sơn. Hải Thôn là địa điểm được hai bên thỏa thuận để nhận người của mình.
Một chiếc cầu phao dài được bắc từ bờ cát ra biển, dùng làm cầu tàu. Hàng chục cổng chào kết lá dừa được dựng lên. Những lá cờ màu cùng những cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió lộng như vẫy chào những người con ưu tú trở về. Nhân dân địa phương, đông đến mấy ngàn người, mặc quần áo ngày hội, tay cầm cờ, xếp thành hàng dọc lối đi. Những giây phút cực kỳ xúc động. Giữa những tiếng hò reo của trẻ em, tiếng hô khẩu hiệu của thanh niên, là tiếng nức nở của mẹ già. Nhân dân ôm lấy những con em mình áo nâu, đầu trọc, vừa cười vừa khóc.
Những cảnh tượng thiêng liêng ấy đập vào mắt những tù binh đang tập trung gần đấy, chờ đến lượt xuống thuyền ra tàu. Nhiều tên thẫn thờ, mắt đỏ hoe. Họ ăn mặc giống nhau: chiếc mũ lá rộng vành, bộ quần áo màu xanh lá cây, đôi dép cao su và một cái túi xách nhỏ đựng những vật dùng thường ngày.
Tôi đi dọc hàng tù binh, nói chuyện, khích lệ và tiễn biệt họ. Bỗng thấy Benla chạy tới, giọng hồi hộp trong hơi thở gấp:
- Kính chào thiếu tá! - Thưa ngài, tôi có thể nhờ ngài giúp cho một việc được không?
- Sẵn sàng lắm! Anh có việc gì cần?
Benla rút trong túi ngực ra một phong thư, vuốt ngay ngắn rồi trân trọng đưa cho tôi bằng cả hai tay:
- Xin ngài làm ơn đưa giúp bức thư này cho cô Hồng. Sáng nay vì đi vội nên tôi chưa kịp gửi.
- Tôi rất vui lòng chuyển giúp anh bức thư này đến tận tay cô ấy.
- Thưa thiếu tá, bức thư để ngỏ, xin ngài xem cho, và nếu ngài không cho là xấu, xin ngài chuyển giúp.
- Anh cứ yên tâm.
Tiếng còi tàu rít lên. Đoàn tù binh xếp hàng lần lượt bước xuống cầu phao. Tôi xắn quần đứng dưới mép nước, vẫy chào họ. Tù binh reo lên:
- Fini la guerre1.
- Rapatriement!2
Tiếng của Benla chìm trong những đợt sóng ập vào bờ:
- Mong có ngày được gặp lại ngài thiếu tá!
Trên đường về, tôi mở bức thư của Benla ra xem, theo yêu cầu của anh. Nét chữ đẹp, cứng cáp, viết bằng chữ Pháp:
Thưa cô Hồng
Tôi là người chịu ơn cô cứu sống. Suốt đời, tôi biết ơn và thờ phụng cô. Rồi đây, tôi sẽ trở về chiến đấu cho Tổ quốc tôi, cũng giống như cô đang chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam. Hình ảnh cô mãi mãi ngự trị trong trái tim tôi. Sau này tôi sẽ nên người một khi đất nước tôi được hoàn toàn giải phóng. Tôi nhất quyết xin trở lại đây để được gặp cô và xin với Chính phủ Việt Nam được đón cô về. Tôi tha thiết hy vọng ngày ấy cũng không quá lâu và cô cũng chưa quên kẻ bất hạnh nhưng hết sức trung thành với cô.
Môhamét Benla.
Cuộc gặp gỡ quốc tế của chúng tôi tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết thúc. Chúng tôi bay ra Hà Nội, trái tim đất nước. Sau mấy ngày hoạt động thăm viếng, hôm nay, tôi lại được cùng các bạn đồng nghiệp đi tiễn những người bạn quốc tế về nước. Vì cương vị giao thiệp, tôi không được ngồi cùng xe với Apđun Môhamét. Mãi đến sân bay Nội Bài, tôi mới lại được gặp anh.
Môhamét thân thiết ôm lấy vai tôi. Một nụ cười hóm hỉnh hiện trên gương mặt cương nghị của anh:
- Bây giờ đã đến lúc tôi giới thiệu với anh về vợ con tôi. Hôm nọ anh có hỏi, nhưng vì chuyện cũng dài, và thú thật tôi định để đến lúc này mới nói với anh.
Môhamét rút ví lấy ra một tấm ảnh màu cỡ 9x13 đưa cho tôi. Nhìn qua cũng thấy ngay ảnh của gia đình anh: anh mặc bộ âu phục đứng giữa, bên một thiếu phụ và hai bên cậu con trai và cô con gái cũng đã lớn. Tôi khen xã giao:
- Đẹp lắm.
Nhưng Môhamét theo đuổi một ý nghĩ khác:
- Anh nhìn kỹ nhà tôi xem.
Tôi nhìn lại tấm ảnh. Người thiếu phụ uốn tóc cao, mặc áo xanh, váy trắng, nét mặt đầy đặn, xinh đẹp và thùy mị. Tôi mơ hồ thấy một gương mặt hơi quen. Bỗng tôi reo lên:
- Cô Hồng phải không?
Vẻ mặt Môhamét rạng rỡ hẳn lên:
- Trí nhớ anh thật tuyệt vời! Chính cô ấy đấy!
Tôi hết sức cảm động, nhìn kỹ tấm ảnh và thầm liên tưởng lại quãng ngày gian khổ hành quân trên đường 41 và cảnh tượng xảy ra tại cây số 42. Thấm thoát mà đã ba chục năm trời. Môhamét rút bút bi ghi mấy chữ nắn nót ở mặt sau tấm ảnh rồi đưa cho tôi:
- Xin tặng anh tấm ảnh này với tất cả ý nghĩa của nó.
Tôi tiễn anh đến tận chân cầu thang máy bay. Anh ôm hôn tôi nhiều lần, rồi trước con mắt ngạc nhiên của các bạn quốc tế và trong nước, anh bỗng đứng nghiêm, giơ tay lên vành mũ, giọng trang nghiêm:
- Merci bien mon commandant!


