Cựu chiến binh

Chặng đường gắn với những bước ngoặt của lịch sử dân tộc.

Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính trị - xã hội; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tác giả của nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông từng là cán bộ của Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tham gia nhiều đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đi các nước và Hội nghị Paris; trợ lý của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng m

Quảng Trị27/11/2025Tú Anh (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Cửa Tùng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

- Thưa Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú, cơ duyên nào đưa ông đến với nghề báo?

+ Năm 12 tuổi, tôi đã làm liên lạc. Đến năm 15 tuổi, tôi tập kết ra Bắc theo đoàn Thiếu sinh quân. Những năm 1958-1959, tôi bắt đầu viết bài cho Báo Tiền phong. Có thể nói, Báo Tiền phong là bà đỡ nghề báo của tôi. Hồi đó, Báo Tiền phong có đội ngũ "thông tín viên", dưới mỗi bài viết đều có 3 chữ TTV trong ngoặc đơn. Trong nhóm TTV đó có tôi, Võ Khắc Nghiêm, Dương Thị Xuân Quý, là 3 cộng tác viên xuất sắc thường xuyên của báo. Kể từ đó, cây bút như là tay trái của tôi. Nhiệm vụ chính mà tôi đảm nhiệm là làm những công việc thường xuyên Nhà nước giao cho một cán bộ.

- Là cộng tác viên xuất sắc của Báo Tiền phong, ngày đó, ông thường viết những gì?

+ Tôi viết khá tự do, từ những điều mắt thấy, tai nghe. Lúc đầu, tôi ở trong đoàn khảo sát địa chất Việt Bắc, Tây Bắc, nên đi nhiều, tôi viết về làng bản, về văn hóa dân tộc, về đoàn địa chất, những bản tin dài, ngắn khác nhau. Từ Tiền phong, tôi tiếp tục viết cho Báo Nhân dân, Báo Lao động và Báo Cứu quốc. Đến năm 1961, tôi dự thi bút ký đầu tiên trên Báo Cứu quốc với bài "Bước chân người địa chất trên sông Đà" và được giải Nhì. Tôi viết bằng niềm yêu thích của mình chứ không qua trường lớp đào tạo nào. Trên Báo Tiền phong ngày đó có Bản tin nghiệp vụ dành cho thông tín viên, họ chia sẻ những thông tin kỹ thuật về viết báo, tôi đọc và tự học từ đó. Sau này, Thông tấn xã Việt Nam mở khóa học "Văn-Sử-Địa", tôi mới tham gia khóa học viết chính thức.

- Điều gì đã thôi thúc ông vào chiến trường làm phóng viên mặt trận?

+ Thời điểm đó, được vào chiến trường với những thanh niên như chúng tôi, đặc biệt với người miền Nam tập kết ra Bắc là một niềm vinh dự dù có thể chúng tôi phải đối diện với cái chết. Tôi là người cầm bút nên càng phải đi. Năm 1968, tôi vào chiến trường Khe Sanh - Quảng Trị, chứng kiến một trận đánh khốc liệt giữa ban ngày và đã chụp được bức ảnh "Cắm cờ ở sân bay Tà Cơn". Lúc đó, tôi lao lên để chụp thì vấp ngã và trong tư thế nằm ngã đó, tôi đã chụp được bức ảnh lịch sử các chiến sĩ quân Giải phóng cầm cờ xông lên chiếm điểm cao. Bức ảnh giành Huy chương Vàng quốc tế trong cuộc thi ảnh nghệ thuật tại Đại hội Thanh niên Thế giới lần thứ 8, năm 1968. Vì bức ảnh đó mà tôi bị thương. Cùng nhóm phóng viên mặt trận với tôi có anh Hồng Nhu của Báo Quân đội nhân dân, anh đã hy sinh, tôi và mấy đồng nghiệp nữa thì may mắn trở về. Khe Sanh thời điểm đó vô cùng ác liệt, mỗi đêm chúng tôi chỉ ngủ 1-2 tiếng thôi, nắm cơm lấy ra chưa kịp ăn thì B52 đã ném bom xuống... Tan tác hết cả... Vì thế, với tôi, viết hay chụp ảnh không nghĩ đến giải thưởng. Tôi chỉ quan niệm, đó là trách nhiệm của người cầm bút, cầm máy, bắt được những thời khắc lịch sử và ghi lại.

- Vậy, ông mê viết báo hay chụp ảnh hơn?

+ Cả ngòi bút và máy ảnh đều là tay trái của tôi, ảnh minh họa cho bài viết. Tôi luôn có chủ ý chụp lại để làm tư liệu sau này. Vì thế, tôi yêu cả hai.

- Ngày đó, những truyện ký, bút ký chiến trường của ông nổi bật ở tính chân thực, cảm xúc sâu sắc và góc nhìn người trong cuộc. Những bài viết không tô hồng, mà tái hiện đau thương, lý tưởng và sức mạnh con người. Ông quan niệm thế nào về người cầm bút trong chiến tranh?

+ Tôi nghĩ, người cầm bút là nhân chứng của lịch sử. Họ có trách nhiệm phản ánh sự thật để độc giả, những người ở hậu phương hiểu được những khốc liệt của chiến tranh và cái giá của hòa bình phải trả bằng xương máu của chiến sĩ và đồng bào ta. Viết đúng sự thật để phản ánh được tất cả những điều đó. Có lẽ, chỉ có trong chiến tranh mới có những câu chuyện xúc động như thế. Tôi có thể gặp một cô thanh niên xung phong vừa hành quân vừa hát, nhưng một tiếng sau cô đã nằm xuống. Những khoảnh khắc ấy, khiến chúng tôi lặng người đi và không thể không viết.

Trong bài "Bộ xương trên võng Trường Sơn", tôi kể câu chuyện trên đường hành quân gặp một chiếc võng, mở ra có một bộ xương. Anh bộ đội đã hy sinh vẫn còn cuốn sổ tay, chữ mờ nhòe hết rồi. Những người mở đường đi trước đã nằm xuống, họ muốn viết gì, nói gì với chúng tôi - những người lính đến sau? Hiện thực cuộc sống xúc động như vậy đó. Tôi nghĩ, mình là một nhà báo may mắn vì đã đi qua cuộc chiến đó, chứng kiến được hiện thực ấy.

Ngày đó, tôi và nhà văn Sơn Tùng cùng hành quân vào Nam. Hai anh em nói với nhau rằng, vào đây sống chết là lẽ thường, nhưng cố gắng sống trở về để viết. Tôi và anh Sơn Tùng lúc đó đều nung nấu viết về Bác Hồ. Sơn Tùng bảo tôi Bác Hồ còn có nhiều chuyện chưa viết, sau này ông thành công với tác phẩm "Búp sen xanh", còn tôi viết ký "Bông Huệ thơm" về mối tình đầu của Bác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chặng đường gắn với những bước ngoặt của lịch sử dân tộc. | Câu chuyện thời hoa lửa