Bài viết

Chàng Việt kiều Pháp và việc đại nghĩa Bác giao

Vĩnh Long15/09/2026Xã Đăk Kôi (Đoàn xã Đăk Kôi)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trước khi gặp Bác Hồ năm 1946, Phạm Quang Lễ là một đại trí thức ở Paris (Pháp), sở hữu 4 bằng đại học, biết 5 thứ tiếng (Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc), đang làm công việc mức lương 5.500 franc/tháng (22 lượng vàng) ở châu Âu.

Tuy nhiên, sau cuộc gặp với Bác Hồ và câu nói: "Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng được chưa?", chàng Việt kiều không mất giây nào suy nghĩ mà khẳng định nguyện một lòng theo chân Bác làm cách mạng.

Từ bỏ cuộc sống nhung lụa ở trời Âu, Phạm Quang Lễ về nước, sống một cuộc đời mới đầy gian khó nhưng vẻ vang.

Chia sẻ trong hồi ký của mình, GS Viện sĩ Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (1913-1997) kể rằng, đến trước 7h sáng ngày 5/12/1946, tên ông vẫn là Phạm Quang Lễ.

Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ với Bác Hồ ở Bắc Bộ phủ, ông được Người đặt cho một tên gọi mới - Trần Đại Nghĩa. Cái tên gắn liền với một nhiệm vụ cao cả phục vụ cho mục tiêu giải phóng dân tộc, chiến thắng mọi kẻ địch, thống nhất đất nước.

Theo đó, trong cuộc gặp gỡ sáng 5/12/1946, Bác Hồ quyết định giao chàng thanh niên yêu nước quê Vĩnh Long Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới và nhiệm vụ chuẩn bị vũ khí chiến đấu cho bộ đội.

Theo Bác, đây là việc đại nghĩa nên Bác đặt cho Phạm Quang Lễ tên mới là Trần Đại Nghĩa. Bác cũng mong tên gọi này sẽ đủ bảo mật và giữ an toàn cho bà con thân thuộc của Phạm Quang Lễ ở trong miền Nam.

Đúng như kỳ vọng của Bác Hồ, Trần Đại Nghĩa sau này trở thành một nhà khoa học lớn của cách mạng, người được mệnh danh là “ông vua vũ khí Việt Nam”, “ông Phật làm súng”… có nhiều đóng góp cho công cuộc giải phóng, thống nhất đất nước.

Theo Đại tá Trần Dũng Trí - con trai GS Trần Đại Nghĩa - sinh thời, cha ông tâm sự rằng, Bác Hồ là người thầy vĩ đại, có ảnh hưởng đến cuộc sống và cống hiến của ông.

Cha ông sang Pháp năm 1935 để thực hiện hoài bão “chế tạo vũ khí đánh Tây”. Tại Pháp, khoa học quân sự là lĩnh vực bí mật và cấm tuyệt đối với người dân các nước thuộc địa, chỉ cần để lộ ra ý định này, ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp.

Chính vì vậy, suốt 11 năm, Trần Đại Nghĩa chỉ còn cách âm thầm, bí mật học tập về vũ khí thông qua nhiều cách, từ làm quen với thủ thư người Pháp, ngày đêm ghi chép, tự học tiếng Đức siêu tốc, làm việc ở nhà máy chế tạo máy bay, nghiên cứu Chiến tranh thế giới thứ II.... Với quyết tâm cao, ông đã đạt được mục đích, chuẩn bị 1 tấn tài liệu cho công việc sau này.

Đầu tháng 9/1946, một trong những “tin mừng lớn nhất trong đời” ông đã đến: “Bác cho phép theo Bác về nước phục vụ cùng 3 anh em khác”.

Hơn một tháng lênh đênh trên mặt biển, chàng “Việt kiều Pháp” được tham gia lớp chính trị do Bác Hồ phụ trách. Ông hiểu dễ dàng và thấm thía rất lâu những lời của Bác - những lời đã ăn sâu trong cả khối óc và trái tim ông suốt cuộc đời.

“Ngay các câu hỏi thân mật của Bác đặt ra để xem chúng tôi thu nhận tới mức nào, để sửa chữa những lệch lạc cho chúng tôi càng lộ rõ lòng thương yêu đối với những cán bộ trẻ chưa có kinh nghiệm, làm cho chúng tôi vô cùng cảm động và nhớ mãi mãi”, GS Trần Đại Nghĩa viết trong hồi ký.

Về phần Bác Hồ, Người dành nhiều lời khen ngợi cho “chàng Việt kiều Pháp” khi “có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân”.

Trong bài đăng trên báo Nhân dân ngày 12/6/1952, Bác viết: “Là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng Lao động trí óc Trần Đại Nghĩa”.

Bác kể, khi kỹ sư Nghĩa mới về, Bác có dặn rằng: “Nước ta thiếu máy móc, thiếu nguyên liệu, thiếu thợ lành nghề. Song giàu về rừng núi, giàu về quyết tâm. Vậy chú phải đưa những cái đã học được ở nước ngoài mà áp dụng vào hoàn cảnh thiết thực ở nước ta, để phụng sự Tổ quốc...”.

Bác khen kỹ sư Nghĩa đã làm đúng lời hứa, khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi ở châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí Nghĩa giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc”.

Trong hai cuộc kháng chiến, GS Trần Đại Nghĩa đã sáng chế và cải tiến nhiều loại vũ khí chiến đấu giúp bộ đội làm rung chuyển chiến trường. Đó là những sản phẩm nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến như đạn bazooka; SKZ (đại bác không giật) xuyên được bê tông cốt thép dày 60cm, dày hơn các pháo đài của Pháp; các loại bom bay có sức công phá mạnh…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, GS Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong cuộc chiến chống máy bay B52, phá hệ thống thủy lôi của địch và chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho bộ đội đặc công.

Khi có con, vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa vẫn thống nhất vẫn để con mang họ Trần - họ mà Bác Hồ đã đặt cho GS Trần Đại Nghĩa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn