Bài viết

CHẾ ĐỘ ĂN, Ở

An Giang17/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHẾ ĐỘ ĂN, Ở

Mỗi phòng giam ở Trại giam tù binh Phú Quốc có diện tích từ 80 - 120 mét vuông được làm chủ yếu bằng tôn thiếc, địch giam giữ từ 50 có lúc, có nơi đến 120 người. Lúc đầu, tù bình ngủ dưới nền đất, sau này để ngăn cản việc đào hầm, vượt ngục, chúng cho làm hai dãy sạp bằng gỗ chạy suốt hai bên vách để tù binh nằm ngủ. Những nơi chưa làm sạp kịp, từ bình trải chiếu ngủ dưới đất.

Về sau địch còn cho tráng xi măng nền nhà và cấm không cho tù binh ngồi chơi hoặc nằm dưới nền nhà, vì sợ anh em ngụy trang để đào hầm. Tuy nhiên, việc làm của địch có tác dụng ngược lại. Nền tráng xi măng khi đào khó mở miệng hẩm nhưng lại dễ ngụy trang, lại không bị lỡ khi lên xuống đào hoặc lấy đất ra. Nến xi măng lại sạch sẽ hơn nền đất nên anh em đỡ bị bệnh tật.

Phòng giam gắn hai bóng điện sáng suốt đêm để bên ngoài nhìn vào thấy được xê dịch của tù binh, đồng thời để bọn giám thị dễ dàng và an toàn khi vào kiểm tra tù binh.

Mọi sinh hoạt như tiểu, tiêu của chừng ấy con người chỉ có một nửa thùng phi đặt giữa nhà. Vì vậy, phòng giam lúc nào cũng bốc mùi hôi thối, nhất là vào mùa hè.

Ở những phân khu Trại giam tù binh Phú Quốc, bọn giám thị kìm kẹp rất gắt gao, không cho anh em nói chuyện, ban ngày phải ở trong phòng, không được đi lại các phòng khác, ban đêm phải nằm “úp thìa”, không được quay mặt vào nhau, ai cãi lệnh chúng thẳng tay đánh đập.

Chế độ ăn uống của tù binh cũng được quy định chung cho các trại giam. Ở Trại giam tù binh Phú Quốc, mỗi ngày tù binh được cấp 700 gram gạo, do Ban Chỉ huy Tiếp vận 3 thuộc Vùng 3 chiến thuật mang tới. Mỗi sáng có xe chở gạo đến phát cho từng phân khu. Nhưng phần nhiều các bao gạo bị chúng lấy bớt, bao 100 kilôgam chỉ còn trên dưới 80 kilôgam. Mỗi khi xe gạo đến, anh em làm ở nhà bếp phải nhanh chóng ra nhận. Nhiều lúc bao gạo không còn đầy, anh em phải đấu tranh giằng co đến trưa chúng mới cho chở đến đổi.

Về thực phẩm, mấy năm đầu, mỗi ngày tù binh được cấp 36,61 đồng (tiền của chế độ Việt Nam Cộng hòa). Đến ngày 1-8-1972 tăng lên, ở Pleiku 55,58 đồng, Đà Nẵng và Quy Nhơn 52,66 đồng, các trại Biên Hòa, Cần Thơ và Phú Quốc chỉ có 50 đồng.

Nhận xét về chế độ ăn, ở của tù binh tại các nhà tù, trại giam nói chung, trong đó có Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc, một tài liệu của chế độ Sài Gòn viết: “Khung cảnh lao tù đã thiếu vệ sinh do tình trạng đông chật, phương tiện chăm sóc phạm nhân về sức khỏe thiếu thốn đến vấn để nuôi ăn can phạm còn bi đát hơn: thực phẩm hàng ngày cho phạm nhân là gạo và các loại khác như: cá khô, mắm sặt, thịt heo, đậu xanh, đậu nành, nước mắm, muối hột, trà, tiêu, dấm, đường cát vàng. Khẩu phần ăn trung bình là 29,44 đôla, nhưng do giá sinh hoạt lên cao gia tăng từ 7,40 đôla đến 10 đôla nên nếu phạm nhân nhận được khẩu phần ăn trên đã thiếu (không kể bị nhà thầu gian xảo, giám thị ăn bớt), thì thấy tình trạng thiếu ăn của phạm nhân".

Trong sách Những con tin của chiến tranh - các tù chính trị ở Sài Gòn, tác giả Holmes Bown và Don Luce viết về trại giam Phú Quốc như sau:

* tù nhân bất bình với số lương thực phát cho họ. Nghe nói họ được những tiêu chuẩn cao, nhưng các tiêu chuẩn đó lại không được thỏa mãn.

cơm, phần lớn đều pha cát, sạn, trong khi ấy, thức ăn không khác gì hơn là một thứ khô mục mà bạn tù gọi là khô ký ninh, vì quá đắng. Khô được dồn dập chở ra đảo trong những lần mua được giá rẻ. Họ tồn kho trong một tòa lâu đài có thể từ ba đến sáu tháng nên nó trở nên đắng hơn và mục rữa hơn. Khi có một chút dầu ăn thì họ rang sơ, không thì họ luộc lõng bõng để làm cái gì gọi là khô kho, thiếu thì họ đổ nước lã vào... có lúc họ cho nướng cháy đen như cục than. Vì thế, người tù chỉ biết tìm vị mắm mặn trong cái đắng ngắt của khô, nghẹn ngào nuốt miếng cơm khỏi miệng trong cái căm hờn. Bên cạnh khô ký ninh, còn có “mắm ruốc khuấy nước lã”. Ruốc được pha nhiều nước đến nỗi chỉ thấy bên dưới một vài xác tép ủ màu”.

Chế độ ăn của phạm nhân đã rất ít ỏi, lại thêm giá cả đắt đỏ nên lượng thực phẩm được cấp phát lại càng ít hơn. Bên cạnh đó, bị bọn cai thầu ăn bớt nên tù binh lại chỉ được hưởng một phần trong số tiền đó. Việc cung cấp thực phẩm cho Trại giam tù binh Phú Quốc thông qua hai cấp thầu, một thầu lớn thâu trực tiếp với nhà cầm quyền và một, hai thầu con thầu lại của nhà thầu lớn từng mặt hàng thực phẩm tươi sống hay cá mắm.

Theo anh em tù binh kể lại, chế độ ăn của tù binh chủ yếu là gạo mốc, gạo ẩm, là loại gạo tồn kho lâu ngày, trong đó có rất nhiều sạn. Thức ăn chủ yếu là cá liệt khô rất nhiều xương hoặc mắm ruốc, đặc biệt rất ít rau, củ, thỉnh thoảng mới có món canh bầu, bí đỏ, củ cải trắng.

Từ 1969 trở đi, anh em đấu tranh thắng lợi, địch cho tự nấu nướng cơm ăn, nước uống, nên anh em có điều kiện chăm sóc cho những anh em bị bệnh tật hoặc bị thương do bị tra tấn, đánh đập như nấu cháo, nấu thức ăn kiêng, dành phần sữa ít ỏi hoặc lựa những con cá ngon nhất. Nhờ vậy đã giúp những anh em bị ốm đau, bị đánh thương tật dần dần được phục hồi sức khỏe tiếp tục chiến đấu.

Về nước uống, lúc đầu chưa có giếng đào, nước được chở bằng xe bồn đến phân phát cho tù binh chỉ đủ để ăn, uống chứ không có nước tắm giặt, rửa ráy.....

Vì vậy, tù binh phải tự tắm theo kiểu riêng gọi là “tắm xe”, tức là vận động mạnh cho ra mồ hôi rồi lấy tay chà từng phần trên cơ thể cho ra hết ghét bẩn...

Thời gian sau, tù binh đấu tranh đòi đào giếng thì nước uống được cải thiện hơn, chỉ riêng khu 10 không có giếng phải chịu khổ cực mãi như trên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CHẾ ĐỘ ĂN, Ở | Câu chuyện thời hoa lửa