CHI BỘ ĐẢNG VÀ QUÂN DÂN VĨNH HỰU BƯỚC VÀO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (10-1945 - 7-1954)
Được sống và tham gia các hoạt động cách mạng trong vòng hơn hai
tháng hòa bình, độc lập vô vùng quí giá, giữa tháng 10-1945, chi bộ Đảng, chính
21
quyền, Mặt trận, các đoàn thể và quân dân Vĩnh Hựu lại khẩn trương chuẩn bị
mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2.
Kể từ sáng 23-9-1945, thực dân Pháp được thực dân Anh hà hơi tiếp sức
đã chính thức khai chiến với quân dân ta ở Sài Gòn - Gia định, các tỉnh miền
Đông và miền Tây Nam bộ đều bị đặt vào tình trạng chiến tranh. Sau khi cơ bản
chiếm được Sài Gòn - Gia định, thực dân Pháp liền mở rộng các cuộc hành quân
lấn chiếm các tỉnh. Ngày 24-10-1945, chúng dùng tàu chiến đổ quân đánh chiếm
Cầu Nổi. Ba ngày sau chúng chiếm được tỉnh lỵ Gò Công, không khí chiến tranh
lan nhanh bao trùm khắp các làng trong tỉnh.
Chủ động đối phó với giặc ngoại xâm, chi bộ Đảng làng Vĩnh Hựu đã
lãnh đạo Ủy ban hành chính, Mặt trận, đoàn thể tổ chức và phát động nhân dân
đắp mô, làm chướng ngại vật khắp các tuyến lộ vào làng, lập phòng tuyến ngăn
chặn địch có khả năng dùng tàu chiến đổ bộ tại Vàm Giồng; vận động nhân dân
quyên góp đồ gang, thép, thóc, gạo để rèn đúc vũ khí, tích trữ quân lương; bố trí
tự vệ canh gác, sẳn sàng chiến đấu. Một Ủy ban kháng chiến làng Vĩnh Hựu
được thành lập giữa tháng 10-1945 do ông Phạm Văn Phẩm làm Chủ tịch, ông
Tư Chấn làm Phó chủ tịch, các uỷ viên Ủy ban hành chánh, trưởng Ban quân sự,
công an, Mặt trận, đoàn thể. Nhiệm vụ của Ủy ban kháng chiến là gấp rút xúc
tiến lập kế hoạch, xây dựng, phát triển lực lượng chống giặc... Công tác chuẩn bị
kháng chiến diễn ra hết sức khẩn trương, sôi nổi, mọi người, mọi nhà đều ý thức
sâu sắc trách nhiệm cao cả của mình trước sự an nguy của tổ quốc. Cả dân làng
như một đội dân binh thực thụ.
Khi địch tràn vào tỉnh lỵ Gò Công, Tỉnh ủy đã lãnh đạo các cơ quan chính
trị, quân sự di chuyển về làng Vĩnh Hựu lập căn cứ kháng chiến. Dân làng đã
nồng nhiệt đón tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cơ
quan tỉnh Gò Công trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ. Nhiều gia đình
tự nguyện dành nhà cho cơ quan tỉnh ở và làm việc như ông Phan Khánh Gia,
ông Ba Năng, ông Chủ Huệ... Nhiều nhà dân đã đón các chiến sĩ Cộng hòa vệ
binh, Quốc vệ đội về ở và nuôi dưỡng 1 . Hội Phụ nữ đã vận động các mẹ, các
chị phục vụ nấu ăn, may vá quần áo, chăm sóc thương - bệnh binh. Hành động
và tình cảm của nhân dân Vĩnh Hựu với các cơ quan kháng chiến đầu não tỉnh
Gò Công biểu hiện rõ quyết tâm chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ
quốc. Đồng thời, thông qua hoạt động thực tiễn trong phong trào đấu tranh cách
mạng, nhân dân Vĩnh Hựu càng trưởng thành về nhận thức, nhiều thanh niên
hăng hái đầu quân vào Cộng hòa tự vệ, Quốc vệ đội và tham gia các tổ chức
chính trị; một bộ phận quần chúng có tư tưởng lưng chừng nay cũng tỏ rõ lòng
hăng hái, nhiệt tình với sự nghiệp cứu nước.
1 Nhµ «ng Phan Kh¸nh Gia lµm trù së UBHC TØnh; nhµ xe «ng Ba N¨ng lµ n¬i ®ãng qu©n cña Ban chØ huy vµ ®éi
cøu th-¬ng cña Céng hßa vÖ binh; nhµ «ng tæng Gia lµ trô së lµm viÖc cña TØnh ñy Gß C«ng ...
22
Biết được các cơ quan đầu não kháng chiến tỉnh Gò Công đang đóng tại
làng Vĩnh Hựu, quân đội Pháp ở Gò Công được quân chủ lực từ Mỹ Tho tăng
viện đã mở cuộc càn quy mô lớn nhằm tiêu diệt gọn lực lượng kháng chiến của
ta trong tháng 12-1945. Chúng tấn công ba mũi đánh vào Vĩnh Hựu: Hướng
đông từ Bình Luông Tây, Long Hựu; hướng Bắc từ Vĩnh Lợi và hướng Tây từ
Bình Ninh (Chợ Gạo). Mỗi hướng tấn công đều có xe nồi đồng yểm trợ.
Đối phó với âm mưu và cuộc càn quét của địch, tỉnh Ủy và Ủy ban kháng
chiến tỉnh đã trực tiếp lãnh đạo lực lượng Cộng hòa tự vệ, Cộng hòa vệ binh,
Quốc vệ đội phối hợp với tự vệ làng Vĩnh Hựu chiến đấu, tiêu diệt và ngăn bước
tiến của địch. Cuộc chống càn diễn ra giằng co quyết liệt 3 ngày liền trên từng
liếp dừa, từng bờ ruộng. Các chiến sĩ mưu trí, quả cảm đánh giặc; thanh niên
nam nữ trong làng hăng hái tiếp tế hậu cần, phục vụ cứu thương; Hội Phụ nữ
phân công chị em sát cánh với bộ đội, tự vệ chăm lo cơm nước chu đáo. Do
tương quan lực lượng, vũ khí giữa ta và địch quá chênh lệch, Tỉnh ủy Gò Công
đã quyết định lãnh đạo các cơ quan tỉnh và lực lượng Cộng hòa tự vệ, Cộng hòa,
vệ binh, Quốc vệ đội di chuyển qua huyện Bình Đại (Bến Tre) để bảo toàn lực
lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài. Cuộc chống càn đầu tiên của Đảng bộ và
quân dân Vĩnh Hựu cùng phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh đã tiêu diệt và
tiêu hao nhiều sinh lực địch, bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo và biểu thị sức
mạnh đoàn kết quân - dân to lớn trong đấu tranh cách mạng.
Lấn chiếm được Vĩnh Hựu, quân Pháp lấy nhà ông Thôn Vịnh (ấp Phú
Quý) và nhà ông Năm Đỏ ở Vàm Giồng (ấp Thạnh Thới) đóng quân. Chúng tiến
hành dò xét, tra khảo quần chúng hòng truy tìm, khủng bố những tổ chức cách
mạng, những người tham gia Việt Minh kháng chiến. Không khuất phục được
quần chúng, giặc Pháp đã châm lửa đốt hơn 300 nóc gia từ ven rạch Vàm Giồng
đến Ba Nò. Những gia đình chúng nghi can đều bị đốt phá, cướp bóc thậm tệ.
Không khí khủng bố trắng bao trùm mọi xóm ấp khiến cho dân làng Vĩnh Hựu
càng thấm thía những giá trị thiêng liêng của tháng ngày được sống trong nền tự
do độc lập; càng nung nấu, trui rèn ý chí "chết cho tự do còn hơn sống nô lệ !".
Trong năm 1946, địch đóng tại làng Vĩnh Hựu 4 đồn: Đồn Cá Chốt (ấp
An Ninh), đồn Hội đồng My (Vĩnh Quý), đồn Cây Bưởi, Vàm Giồng (ấp Thạnh
Thới) 1 . Đồng thời chúng lập lại bộ máy bàn làng làm công cụ kiểm soát, khống
chế nhân dân. Mặc dù địch cố ý lựa chọn những phần tử cho là có khả năng
chống cộng sản, chống cách mạng để đưa vào bộ máy chính quyền nhằm áp đặt
chính sách cai trị phản cách mạng. Nhưng đối với làng Vĩnh Hựu đó là điều
chúng không dễ thực hiện. Trong số người địch lựa chọn, hầu hết là quần chúng
đã được cách mạng giác ngộ, họ miễn cưỡng phải chấp nhận làm việc trong hội
tề, nhưng quyết không làm tay sai cho giặc, mà để làm nội tuyến cho cách mạng,
1 Đồn Cây Bưởi một trung đội lính Thiên Chúa giáo; đồn Vàm Giồng một trung đội lính Cao Đài; đồn nhà Hội
®ång My, C¸ Chèt mçi ®ån mét trung ®éi lÝnh Com-m¨ng-®«
23
bảo vệ tổ chức Đảng và quần chúng. Tiêu biểu như ông thôn Phát đã sao bộ thuế
làng gởi vào cho Mặt trận Việt Minh; thu thuế nộp cho Ủy ban hành chính và
làm giấy căn cước cho cán bộ, du kích hoạt động bất hợp pháp với địch. Nhiều
người trong hội tề làng vẫn giữ mối quan hệ tốt với cán bộ Mặt trận Việt Minh,
ủng hộ tiền bạc, cung cấp những tin tức quan trọng của địch. Hội tề làng lúc này
giống như lớp vỏ bọc hợp pháp của các tổ chức cách mạng làng Vĩnh Hựu. Nhờ
vậy, chi bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể vẫn duy trì được tổ chức và
hoạt động, tuy điều kiện hoạt động hết sức khó khăn trước sự ruồng bố liên miên
của bọn lính đồn trú trên địa bàn.
Về tình hình kinh tế - xã hội, từ khi bị giặc chiếm đóng, một số địa chủ
ngoan cố như hội đồng Thà, hội đồng My ... dựa vào thế lực quân đội Pháp
giành lại ruộng đã được cách mạng chia cấp cho nông dân. Được chi bộ Đảng,
chính quyền, Mặt trận giác ngộ, vận động số địa chủ tiến bộ trong làng, họ có
lấy lại một số ít ruộng đất, còn lại vẫn để cho nông dân canh tác không thu tô.
Con cháu của địa chủ tiến bộ đều tham gia các tổ chức cách mạng. Tình hình
trên dẫn đến một bộ phận nông dân lại một lần nữa bị địa chủ tước đoạt ruộng
đất, trở thành tá điền. Thân phận của tá điền lúc này khác nhiều so với tá điền
trước Cách mạng Tháng Tám, họ được giảm tô 50%, không phải gánh thóc đi
nộp tô mà địa chủ chịu đến nhà tá điền nhận thóc tô, không phải nộp gạo lễ, vịt
lễ và bãi bỏ công lễ. Đồng thời, tư thế chính trị của họ là công dân của một nước
độc lập có chủ quyền, được các tổ chức cách mạng bảo vệ. Tuy quyền lợi kinh tế
còn bị hạn chế nhiều so với những nông dân tự do, nhưng họ vẫn ý thức rõ sự
biến đổi sâu sắc của cuộc đời họ trong cách mạng. Tinh thần cách mạng trong
lòng họ luôn sục sôi, cháy bỏng.
Phần đông nông dân Vĩnh Hựu được thoát khỏi thân phận tá điền, họ phấn
khởi, hăng hái tăng gia sản xuất làm ra nhiều lúa gạo cải thiện đời sống gia đình
và đóng góp cho quỹ kháng chiến. Ơn sâu nghĩa nặng với Đảng, với cách mạng
nhân dân Vĩnh Hựu đã thề nguyện gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp cách mạng.
Mặc dù phải sống trong vùng địch tạm chiếm, nhân dân vẫn một lòng sắt son
bảo vệ tổ chức Đảng và nhiệt tình đóng góp nhân tài vật lực cho sự nghiệp
kháng chiến. Vì thế, chi bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể làng Vĩnh
Hựu vẫn tiếp tục duy trì, phát triển được lực lượng và hoạt động trước sự khủng
bố hết sức dã man của giặc. Năm 1946, tổ chức Đảng, Ủy ban hành chính kháng
chiến, 1Mặt trận, các đoàn thể nhiều nơi bị địch phá hoại. Riêng làng Vĩnh Hựu,
chi bộ Đảng đổi tên thành Hội Nghiên cứu Mác-xít đã nâng số đảng viên lên 20
đồng chí; Ủy ban hành chính kháng chiến được kiện toàn; Mặt trận Liên Việt 2
và các đoàn thể được củng cố, mở rộng; phong trào cách mạng quần chúng
được giữ vững, trở thành một trong những đơn vị điển hình của tỉnh Gò Công.
1 Theo chñ tr-¬ng cña TØnh ñy Gß C«ng, s¸p nhËp Uû ban hµnh chÝnh vµ Uû ban kh¸ng chiÕn thµnh Ủy ban hµnh
chÝnh kh¸ng chiÕn.
2 MÆt trËnLiªn ViÖt.
24
Do vậy, khi Tỉnh ủy Gò Công chủ trương thành lập 4 quận uỷ và 1 thị xã ủy,
Tỉnh ủy và quận ủy quận I đã chọn làng Vĩnh Hựu làm căn cứ địa của Tỉnh và
quận từ năm 1946.
Năm 1947 Mặt trận Liên Việt làng Vĩnh Hựu đựơc tổ chức do ông Phạm
Văn Đăng làm Chủ tịch; các ông Đinh Đạo Ninh (Lão Bảy), Nguyễn Nho Lâm,
Đỗ Hữu Tống, Cả Dành làm ủy viên. Mặt trận đã đẩy mạnh công tác vận động
nhân dân là tín đồ các tôn giáo đoàn kết tham gia đóng góp mọi mặt cho kháng
chiến, động viên thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang tỉnh và công an, du kích
làng chống giặc. Trong đó, cuộc vận động các tín đồ Phật giáo của nhà sự Đinh
Đạo Ninh trụ trì chùa Vạn Bửu phật đường thông qua các buổi thuyết pháp, các
bài thơ của ông đã có ảnh hưởng lớn trong các tầng lớp nhân dân. Bài thơ "Vấn
Đạo" của ông không chỉ thức tỉnh giới phật tử mà còn thức tỉnh các tín đồ Thiên
Chúa giáo, đạo Cao Đài làng Vĩnh Hựu và nhiều làng trong vùng nhận rõ bổn
phận với đời, với đạo: "Cà sa gác lại đền ơn nước, ơn nước xong rồi đạo mới
hay". Sự tuyên truyền và giác ngộ của Mặt trận Liên Việt đã chuyển hóa phần tử
lưng chừng trong các tầng lớp đứng hẳn về cách mạng, khích lệ những thanh
niên tiên tiến lên đường đầu quân giết giặc, riêng gia đình ông Bộ Lâm đã có 3
người con gia nhập Cộng hòa vệ binh, Quốc vệ đội tỉnh. Không chỉ những gia
đình nông dân, mà hầu hết những địa chủ, phú nông trong làng cũng đã động
viên con cháu tham gia các tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang cách mạng.
Nhiều phụ nữ đã được cách mạng rèn luyện trở thành cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu
như bà Đặng Thị Tịnh, bà Nguyễn Thị Sở, bà Phạm Thị Trước.... Bà Ba Trước
là cán bộ phụ nữ năng nổ, nhiệt tình công tác cách mạng , không sợ nguy hiểm,
bám vùng tạm bị địch chiếm đóng để tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ
kháng chiến đã anh dũng hy sinh, nêu tấm gương sáng cho phụ nữ và nhân dân
Vĩnh Hựu trong cuộc chiến tranh vệ quốc vẻ vang. Chủ trương vận động, cảm
hóa tầng lớp hữu sản, tín đồ các tôn giáo đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt,
cùng dấn thân vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Hội
nghiên cứu Mác-xít làng Vĩnh Hựu đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chia rẽ các
tầng lớp nhân dân của địch.
Từ năm 1947 đến 1950 chính quyền địch tỉnh Gò Công ráo riết tiến hành
kế hoạch bình định, trong đó chúng coi làng Vĩnh Hựu là trọng điểm. Trong các
bản báo cáo của Tỉnh trưởng Gò Công và kế hoạch bình định, "làng đỏ Vĩnh
Hựu" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Dưới con mắt của địch, Vĩnh Hựu không
chỉ là căn cứ của cơ quan đầu não kháng chiến tỉnh Gò Công mà còn là nơi có
truyền thống “bạo loạn cần xóa bỏ”. Do vậy, ngoài quân số 4 trung đội đồn trú,
chúng còn thường xuyên gia tăng viện binh ruồng bố, chà đi xát lại nhằm bắt
bớ, khủng bố đảng viên và quần chúng có tư tưởng yêu nước thương nòi, bắt
thanh niên 18 tuổi trở lên đi lính, cướp bóc thóc gạo, heo, gà phục vụ chính sách
"lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" "dùng người Việt đánh người Việt". Chỉ tính
riêng trận càn ngày 7-8 AL (1947), địch đã bắt rồi đem bắn 9 đảng viên và quần
chúng tại Cầu Sắt, chúng bêu đầu, phơi thây các tử thi 3 ngày không cho nhân
25
dân chôn cất.Mức độ khủng bố của địch mỗi ngày càng ác liệt, đẩy phong trào
cách mạng của quân dân Vĩnh Hựu vào hoàn cảnh khó khăn gay gắt.
Đối phó kịp thời với âm mưu phản cách mạng và kế hoạch bình định của
địch, Tỉnh ủy Gò Công và Quận ủy quận I đã lãnh đạo Hội Nghiên cứu Mác-xít
Vĩnh Hựu chuyển hướng hoạt động, đề ra Nghị quyết toàn diện về các lĩnh vực
công tác.
Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là bảo toàn lực lượng cán bộ, đảng viên, cơ
sở, nòng cốt quần chúng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân
thực hiện phương châm "trường kỳ kháng chiến" và tư tưởng "thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm bám đất, bám làng, duy trì lực lượng chính
trị, vũ trang. Một số nhiệm vụ cụ thể cần tập trung thực hiện là:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng và những hương
chức trong hội tề ủng hộ kháng chiến, giữ gìn bí mật, bảo vệ tổ chức Đảng.
- Xây dựng các đoàn thể cứu quốc; chú trọng phát triển lực lượng du kích,
xây dựng công binh xưởng tự tạo vũ khí đánh giặc.
- Vận động nhân dân hưởng ứng chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" của
Chính phủ; tích cực tham gia phong trào thi đua ái quốc" do Chủ tịch Hồ Chí
Minh phát động.
- Sinh hoạt và hoạt động của Hội nghiên cứu Mác-xít thực hiện theo
phương thức bí mật, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên phụ trách
vùng và công tác chính quyền, Mặt trận, đoàn thể phù hợp điều kiện, khả năng.
Mỗi đảng viên phải tỏ rõ lòng trung thành và bảo vệ bí mật của Đảng ...
Thực hiện Nghị quyết của Hội, các đảng viên đã tập trung xây dựng gia
đình cơ sở làm hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, mỗi cán bộ phải có từ một đến 2
hầm bí mật dự phòng. Chủ trương trên được nhiều gia đình cơ sở hưởng ứng
làm hầm bí mật, tiêu biểu là gia đình bà Cả Lũ, bà Ba Theo ... Nhờ vậy, ta đã
xây dựng được lực lượng du kích đông về số lượng, mạnh về chất lượng, mỗi ấp
có một tiểu đội được trang bị các loại vũ khí tự tạo, có khả năng phục kích tiêu
diệt những tốp lính đi lùng sục, ruồng bố. Mặt trận và các đoàn thể thường
xuyên cử cán bộ bám sát các khu vực dân cư ven đồn bót để xây dựng nhân tâm,
nắm tình hình địch. Đồng thời, đẩy mạnh vận động địa chủ, phú nông, trung
nông "nhường cơm sẻ áo" chia ruộng cho số nông dân bị những địa chủ ngoan
cố chiếm đoạt. Cuộc vận động đạt kết quả khả quan, được những gia đình nhiều
ruộng hưởng ứng tự nguyện chia sẻ một phần ruộng đất của mình cho nông dân
và tích cực đóng góp tiền của cho kháng chiến. Tiêu biểu là gia đình ông thôn
Vạng; ông Bảy Bửu, hội đồng Hai ... Các điền chủ như hội đồng Thà, tổng Trà,
hội đồng Đông tự ý tăng tô với tá điền, ta vận động tá điền trả ruộng. Nông dân
26
các làng Vĩnh Lợi, Vĩnh Viễn cũng không tới làm. Sau 1 năm ruộng bị bỏ
hoang, các Hội đồng Thà, Đông đi năn nỉ tá điền làm lại theo mức tô được chính
quyền quy định. Việc làm trên đã có tác dụng bồi dưỡng sức dân, xây dựng tinh
thần đoàn kết nội bộ nông dân trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Các chủ
trương do Hội mác-xít lãnh đạo như phá hương lộ Vĩnh Lợi - Vàm Giồng, đắp
mô dựng chướng ngại vật các tuyến đường vào ấp, tháo dỡ nhà ngói lớn không
cho địch trú quân, làm hầm cất giấu thóc gạo ... trở thành phong trào hành động
cách mạng mạnh mẽ của quần chúng. Mỗi đêm phá lộ giao thông, đắp mô, dựng
chướng ngại vật có từ 300 đến 500 người tham gia. Nhiều gia đình điền chủ
cũng tự giác tháo gỡ nhà ngói lớn theo chủ trương "tiêu thổ kháng chiến". Lực
lượng tự vệ ấp thường xuyên gài đạp lôi tự tạo, lựu đạn bằng vỏ pháo 20 ly tự
tạo, phục kích chặn đánh các toán lính đi lùng sục làm chúng không dám ra xa
đồn quấy nhiễu nhân dân, hãm hại cán bộ khi không có viện binh. Ta làm ca
dao:’’Vĩnh Hựu là bãi chiến trường, đạp lôi, lựu đạn nằm đường đón Tây’’hoặc
chúng lo sợ nên cũng đặt ra câu ca dao nhắc nhau: "Vĩnh Hựu đi dễ khó về; khi
vô đi bộ khi về đi khiêng". Do vậy căn cứ địa Vĩnh Hựu và các cơ quan lãnh đạo
kháng chiến từ tỉnh, quận được bảo vệ an toàn. Do chính quyền cách mạng non
trẻ, thế lực địch tạm thời còn mạnh, chúng tập trung khủng bố, chống phá ta ác
liệt nên thời kỳ này đấu tranh vũ trang, chính trị trên địa bàn ít sự kiện nổi bật,
nhưng việc Đảng bộ và dân, quân Vĩnh Hựu giữ vững căn cứ kháng chiến, bảo
vệ được các tổ chức cách mạng và duy trì được hoạt động chính trị, vũ trang của
quần chúng là thành tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là cội nguồn sức
mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng trong chặng đường mới.
Nhiều năm lấn chiếm, bình định làng Vĩnh Hựu địch vẫn chưa đạt được
mục tiêu đề ra, từ năm 1950 đến 1952 địch liên tiếp đưa tiểu đoàn lính Marốc từ
Mỹ Tho xuống tăng viện đánh vào căn cứ kháng chiến của ta nhằm triệt phá tận
gốc các tổ chức cách mạng, xóa sổ lực lượng vũ trang Gò Công đang đóng quân
tại Vĩnh Hựu, khủng bố tinh thần yêu nước của nhân dân ... chúng châm lửa đốt
150 nóc gia từ Vàm Giồng tới ấp Phú Quý, cướp bóc vơ vét tàn khốc lương
thực, heo, gà hòng triệt tiêu nguồn hậu cần trực tiếp của nhân dân Vĩnh Hựu cho
kháng chiến, tách dân ra khỏi căn cứ địa để dễ bề đánh phá, tàn sát các lực lượng
cách mạng. Hàng trăm hộ nhân dân phải tản cư, rời bỏ ruộng vườn ra vùng địch
tạm chiếm sống trong cảnh "màn trời chiếu đất" để tránh đạn pháo và sự ức hiếp
của giặc. Tình cảnh cơ cực đến tột cùng của nhân dân đã được các nhà nho trong
làng diễn tả trong bài hát:
"... Thời này khổ lắm ai ơi
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Tây muốn bắt, Tây càn Tây bắt.
Lính muốn giam, lính dắt đi giam.
27
Người ta như thể thú, cầm.
Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què...".
Thủ đoạn bình định mới của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn: Một số
gia đình cơ sở từng làm hầm nuôi giấu cán bộ phải tản cư vào vùng địch tạm
chiếm; lương thực, thuốc men phục vụ cán bộ, chiến sĩ thiếu thốn; một bộ phận
cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang bị địch bắt và hy sinh, trong đó có
đồng chí Lê Văn Chà, Bí thư chi bộ; đồng chí Nguyễn Thị Sở, Hội trưởng Hội
Phụ nữ cứu quốc; đồng chí Nguyễn Thành Lập, Ủy viên quân sự ... Nhưng các
đồng chí cán bộ, đảng viên còn lại vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ cộng sản,
khi bị giặc bắt tù đày, tra tấn và kể cả khi bị giặc đem bắn vẫn một lòng trung
thành tuyệt đối với Đảng và nhân dân. Tiêu biểu là đồng chí Nguyễn Thị Sở bị
địch bắt ngày ngày 29-7 âm lịch năm 1951. Mặc dù chúng dùng mọi thủ đoạn
mua chuộc, dụ dỗ và áp dụng mọi cực hình tra tấn nhưng vẫn không lay chuyển
được ý chí và tinh thần cách mạng của ngườI nữ đảng viên Cộng sản này.Tên
Một Đối, Trưởng đồn Vàm Giồng điên cuồng đem đồng chí Nguyễn Thị Sở ra
bắn tại xóm Bờ Xe ( gần ngã ba Ao Dương) và bắt nhân dân ra coi chúng bắn ...
để uy hiếp tinh thần kháng chiến nhưng đồng chí vẫn tỏ thái độ bình thản, không
cho địch bịt mắt để nhìn đồng bào, quê hương lần cuối cùng. ánh mắt trong sáng
ấm tình đồng chí, nghĩa đồng bào và rực cháy căm thù trước họng súng giặc của
người Hội trưởng Hội Phụ nữ càng khích lệ tinh thần đoàn kết kháng chiến của
Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Hựu. Tinh thần bất khuất, hy sinh của đồng chí
Nguyễn Thị Sở, Nguyễn Thành Lập, Đỗ Hữu Diềm ... và nhiều đồng chí cán bộ,
đảng viên trung kiên làng Vĩnh Hựu trước hành động khủng bố dã man của địch
càng thôi thúc đồng chí, đồng đội và nhân dân vùng dậy báo thù.
Trong hoàn cảnh khó khăn gay gắt của cuộc kháng chiến, Huyện ủy Gò
Công đã kịp thời lãnh đạo chi bộ Vĩnh Hựu 1 tổ chức sáp nhập các lực lượng
thành một khối "Dân quân chính Đảng" để bảo toàn lực lượng. Đồng thời, tổ
chức một bộ phận cán bộ, đảng viên bám trụ, lãnh đạo quần chúng, duy trì
phong trào cách mạng. Những cán bộ, đảng viên bám trụ tuy phải sống, hoạt
động trong điều kiện cực kỳ gian nan, vất vả nhưng vẫn kiên trì chịu đựng nhịn
đói, nhịn khát dưới hầm bí mật 2-3 ngày liền khi bị địch càn, bố. Việc ăn uống
phải tự lực, không có người nuôi giấu như trước. Mỗi lần đột nhập vào vùng
địch tạm chiếm hoạt động móc nối cơ sở, xây dựng nhân tâm với quần chúng
cũng phải đối mặt với tầng tầng cạm bẫy của giặc. Nhưng những cán bộ đảng
viên đã đủ bản lĩnh mưu trí, khéo léo để duy trì ảnh hưởng của Đảng với quần
chúng. Do vậy, mối liên hệ giữa tổ chức Đảng và nhân dân Vĩnh Hựu luôn được
giữ vững trong những hoàn cảnh khó khăn, ác liệt nhất.
1 Cuèi n¨m 1951, theo chñ tr-¬ng cña Trung ương Đảng, TØnh Mü Tho, T©n An s¸p nhËp thµnh TØnh Mü - T©n -
Gß thuéc qu©n khu miÒn ®«ng; TØnh Gß C«ng thµnh huyÖn Gß C«ng chung. Héi nghiªn cøu M¸cxÝt ®æi l¹i thµnh
chi bé Đảng.
28
Tháng 11-1951, Huyện ủy Gò Công triệu tập hội nghị tại xã Thừa Đức
(huyện Bình Đại, Bến Tre) để nhận định, phân tích, đánh giá toàn diện tình hình
Gò Công. Trên cơ sở đó, hội nghị đã phổ biến và vận dụng chủ trương của Đảng
cấp trên vào hoàn cảnh cụ thể, đề ra chương trình công tác và phân công, bố trí
cán bộ lãnh đạo từng vùng, nhất là vùng căn cứ kháng chiến. Đồng chí Năm
Hoàng, Huyện ủy viên được tăng cường về làm Bí thư chi bộ Vĩnh Hựu và đã
được bà Nguyễn Thị Thì, một cán bộ hợp pháp nhận làm bà con để che giấu.
Đồng chí Năm Hoàng đã khẩn trương bắt liên lạc với các đảng viên bám trụ như
Nguyễn Hữu Đằng, Phó Bí thư chi bộ; đồng chí Lê Công Chánh (tự Tám Lác);
Ba Chí Công, Võ Văn Ri, Nguyễn Văn Nô ... xây dựng phong trào kháng chiến
theo kế hoạch của Huyện ủy.
Nghị quyết của chi bộ những tháng cuối năm 1951 và đầu năm 1952 đã đề
ra những nhiệm vụ chủ yếu: Củng cố hoạt động của chi bộ, Mặt trận và các đoàn
thể chính trị; phát triển lực lượng du kích; xây dựng lại công binh xưởng sản
xuất vũ khí tự tạo đánh địch; vận động quần chúng đấu tranh chính trị với địch
trở về vườn ruộng cũ, chống càn quét, bắn đạn pháo, cối vào khu dân cư; đẩy
mạnh công tác địch-ngụy vận để phân hóa địch, xây dựng cơ sở nội tuyến nắm
tình hình địch; trừng trị những tên Việt gian làm tay sai đắc lực cho giặc, tạo thế
cho phong trào quần chúng nổi dậy; kết hợp đấu tranh chính trị, địch-ngụy vận
với đấu tranh vũ trang làm suy yếu địch từng bước, giành thắng lợi cho cách
mạng.
Thực hiện chủ trương của Huyện ủy Gò Công và Nghị quyết của chi bộ từ
đầu năm 1952 là tổ chức lực lượng cách mạng hợp pháp hoặc có cảm tình với
cách mạng trong bộ máy tề xã; tăng cường công tác xây dựng vững chắc vùng
căn cứ Vĩnh Hựu, mở rộng tổ chức hoạt động trên địa bàn Vĩnh Lợi. Những
chiến sĩ dân quân tự vệ được tổ chức thành các tiểu đội du kích đưa về Phú
Thạnh Đông huấn luyện và nhiều cán bộ dân chính Đảng được cử đi học các lớp
đào tạo tại căn cứ Lý Nhơn, Rừng Sác trở về hoạt động. Công binh xưởng hoạt
động trở lại sau một thời gian gián đoạn để chế tạo đạp lôi lựu đạn, dáo, mác
trang bị cho du kích đánh giặc. Chi bộ đã vận động nhân dân đấu tranh chính trị
với địch đòi trở về ruộng vườn cũ làm chòi ở, đào kênh mương vừa để dẫn nước
phục vụ sản xuất vừa làm giao thông hào chiến đấu, ngăn xe nồi đồng của giặc.
Cuộc vận động nhân dân đấu tranh trở về ruộng vườn cũ là một thắng lợi lớn
của chi bộ, Mặt trận và các đoàn thể. Các gia đình cơ sở không sợ nguy hiểm, hy
sinh đã làm lại hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ, "công sự" lòng dân của
cách mạng được củng cố.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, công tác đấu tranh chính trị trực diện
với địch và công tác binh - tề vận được quần chúng tiến hành với nhiều hình
thức đa dạng, hiệu quả. Mỗi khi thấy toán lính do đội Nhung, đội Tài vác súng
nghênh ngang đi ruồng bố thì các má, các chị đang cấy thường hò, hát đối những
29
bài hát mang nội dung giáo dục sâu sắc. Tiêu biểu là bài hát phổ biến của Mặt
trận Liên Việt lúc bấy giờ:.
"Con ơi ! Thà rằng con giết mẹ đi,
Thà là con chết từ khi lọt lòng,
Bao năm bú, mớm, ẵm bồng,
Mong con khôn lớn đền ơn sinh thành
Tưởng rằng tuổi trẻ đầu xanh
Nên cơ, nên nghiệp rạng danh nước nhà
Nghe lời kẻ xấu gièm pha
Bỏ bê nhà cửa con ra làm đồn
Ở đời cay đắng nào hơn
Theo Tây cướp nước, phụ ơn sinh thành
Súng Tây con bắn dân mình
Nhẫn tâm thế ấy sao đành hỡi con !
Nỡ nào quên nước quên non
Nước non còn đó, con còn mẹ đây
Thôi con ơi!
Súng Tây quay lại bắn Tây
Hạ đồn, đốt bót về đây mẹ chờ
Đêm đêm đốt ngọn đèn mờ
Lắng nghe súng nổ, mẹ chờ đón con ..."
Lính đồn trú ở làng Vĩnh Hựu nghe các má, các chị hò, hát nhiều lần mà
thuộc lòng. Nhiều binh sĩ tỏ rõ sự hối lỗi, ăn năn không còn hung hăng như
trước, không nhũng nhiễu ức hiếp nhân dân. Nhiều binh sĩ đã được quần chúng
cảm hóa, có người trở thành nội tuyến như anh Phong, có người bỏ ngũ mang
súng trở về phục vụ cách mạng như các anh Tư Trường; anh Kỉnh, hai anh đã
mang 3 khẩu súng trường, 6 trái lựu đạn, 180 viên đạn trở về gia nhập vào 2 tiểu
đội du kích đánh giặc lập công. Công tác tề vận cũng đạt được kết quả quan
30
trọng, nhiều nhân viên hội tề vẫn giữ thái độ ủng hộ cách mạng với nhiều mức
độ khác nhau. Một số phần tử tỏ thái độ ngoan cố, ác ôn bị cô lập hoặc bị lực
lượng du kích trừng trị. Trong 2 năm (1951-1952) ta đã trừng trị 4 tên Việt gian
ngoan cố tỏ thái độ đối lập với cách mạng, với nhân dân. Việc trừng trị những
tên ác ôn ngoan cố có tác dụng cảnh tỉnh những nhân viên tề ngụy khác, làm
chúng núng thế rõ rệt.
Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, binh - tề vận, phong trào đấu
tranh vũ trang của du kích Vĩnh Hựu cũng diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ. hàng ngàn
hầm chông, mìn, lựu đạn được du kích và quần chúng cài đặt khắp nơi tạo thành
thế trận "thiên la địa võng" tiêu hao sinh lực địch. Các đồn Vàm Giồng, Cây
Bưởi, Cá Chốt, Cây Da ... thường xuyên bị du kích vây ép bằng lựu đạn gài, bắn
tỉa làm cho địch phải co cụm. Từ năm 1952 đến 1954, quân dân Vĩnh Hựu từng
bước lấy lại thế chủ động, tiến tới làm chủ tình hình cả ngày lẫn đêm. Thực hiện
chủ trương tổng phản công hệ thống đồn, tua địch của Huyện ủy Gò Công, ngày
27 rạng sáng 28.01.1954 (nhằm ngày 23 tháng chạp năm Giáp Ngọ), chi bộ
Đảng đã lãnh đạo phối hợp chặt chẽ các mũi tiến công chính trị, binh vận, vũ
trang bức rút đồn Cây Bưởi, quần chúng tụ tập quanh đồn do gia đình binh sĩ
làm nòng cốt, đấu tranh chính trị kêu gọi con em bỏ ngũ trở về. Đồng thời, du
kích phối hợp vây ép, dùng thuốc nổ tự tạo uy hiếp. Bên trong đồn những nội
tuyến của ta tác động làm binh sĩ hoảng loạn, buộc bọn chỉ huy ra lệnh bỏ đồn
chạy về Vĩnh Lợi. Quân dân Vĩnh Hựu đã san bằng đồn Cây Bưởi. Phát huy
thắng lợi, quân dân Vĩnh Hựu tiếp tục vây ép, kêu gọi các đồn bà Cả Tám, đồn
công sở Vĩnh Hựu, đồn vịnh Thằng Chệt, tua gác Xóm Mới, tua Cá Chốt ... ra
hàng, giao nộp súng cho cách mạng trong tháng 2-1954. Riêng đồn Vàm Giồng,
quân dân Vĩnh Hựu chưa bao vây binh sĩ địch đã hoảng hốt tháo chạy. Sự tan rã
của hệ thống đồn, tua kéo theo sự tê liệt, tan rã của hội tề, làng Vĩnh Hựu hoàn
toàn giải phóng, trở thành một trong những hậu cứ quan trọng của chiến trường
Gò Công từ tháng 2-1954. Ủy ban hành chính kháng chiến, Mặt trận, đoàn thể
đứng ra tổ chức mọi mặt đời sống của nhân dân như những ngày đầu sau Cách
mạng Tháng Tám. Lực lượng du kích đã trưởng thành vượt bậc cả số lượng và
chất lượng, số vũ khí thu được của địch đã trang bị đủ cho 3 tiểu đội để giữ gìn
trật tự trị an, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Các tầng lớp nhân dân biểu
thị sự vui mừng phấn khởi cao độ, mọi người đều nhiệt tình tham gia công tác
cách mạng, không khí làng Vĩnh Hựu nhộn nhịp hân hoan như ngày hội. Chi bộ
Đảng, Ủy ban hành chính kháng chiến, Mặt trận và các đoàn thể chính trị làng
Vĩnh Hựu đã lãnh đạo dân làng thực hành các quyền tự do dân chủ, quyết định
tịch thu đất của địa chủ cường hào,Việt gian chia cho nông dân không có
ruộng…Thắng lợi của chi bộ Đảng và quân dân làng Vĩnh Hựu trở thành tấm
gương và nguồn động viên to lớn thôi thúc quân dân vùng bị địch tạm chiếm
dũng cảm đấu tranh đòi giải phóng.
Cay cú trước sự tan rã của bộ máy tề - ngụy làng Vĩnh Hựu, chính quyền
địch tỉnh Gò Công mặc dù đã lâm vào tình trạng suy yếu trầm trọng, hầu hết
31
quân chủ lực đã phải điều động đi ứng cứu các nơi đang bị quân dân ta uy hiếp
mạnh, bọn tề - ngụy tại chỗ hoang mang cao độ, nhưng để trấn an tư tưởng nhân
viên và binh sĩ trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, cuối tháng 2-1954 chúng
huy động hầu hết quân chủ lực hiện có, mở cuộc hành quân càn quét quy mô lớn
nhằm xóa bỏ bằng được làng giải phóng này. Đó là hành động quẫn bách cuối
cùng của địch trước cơn giãy chết.
Chủ động đối phó với cuộc hành quân càn quét của địch, 3 tiểu đội du
kích do các đồng chí Ba Ở, Năm Sâm, Tăng, Giác, Bảy Mạnh, Sáu Thuận chỉ
huy đã lập thế trận chặn đánh hai mũi tấn công của giặc từ chùa Vạn Bửu và
chùa Vĩnh Viễn. Địch quân đông, vũ khí mạnh nhưng chúng không có lợi thế về
địa hình, tinh thần binh sĩ bạc nhược. Ngược lại, lực lượng du kích Vĩnh Hựu ít
về quân số, hạn chế về khí tài nhưng lại có địa hình thuận lợi là đường mương,
liếp dừa cơ động hết sức linh hoạt cộng với tư thế của người chiến thắng, nên
tinh thần chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng và cuộc sống bình yên cho nhân dân
của cán bộ, chiến sĩ rất cao.
Bọn chỉ huy cuộc càn thúc lính bảy lần dùi vô địa hình trong ngày, nhưng
cả bảy lần chúng đều bị lực lượng du kích đánh bật. Địch bị bế tắc, thối chí buộc
phải ra lệnh rút lui. Ta bảo toàn được lực lượng, giữ vững vùng giải phóng.
Đêm 17-5-1954, Huyện ủy Gò Công đã chọn Vĩnh Hựu làm địa điểm tổ
chức lễ đón nhân ảnh Bác Hồ và Huân chương Quân công hạng 3 do Trung
ương Đảng và Chính phủ tặng thưởng Đảng bộ và quân dân huyện Gò Công về
thành tích "phá vỡ hệ thống đồn bót, đánh bại chiến lược bình định của giặc".
Riêng chi bộ Đảng và quân dân Vĩnh Hựu được tặng thưởng cờ thi đua về thành
tích chống càn, bảo vệ căn cứ cách mạng. Hơn 10 ngàn đồng bào, chiến sĩ huyện
Gò Công từ khắp nơi đã tề tựu về làng Vĩnh Hựu dự lễ đón nhận phần thưởng
cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng. Không khí lễ hội tưng bừng mừng
thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân Gò Công
diễn ra hoành tráng, long trọng tại vùng giải phóng Vĩnh Hựu là niềm vinh dự,
tự hào lớn của quê hương giàu truyền thống cách mạng. Đồng thời, tiếp thêm
nguồn sức mạnh cho Đảng bộ và quân dân Vĩnh Hựu trong đấu tranh cách mạng
dưới cờ Đảng quang vinh.
Hằn học với thắng lợi của quân dân Gò Công nói chung và quân dân Vĩnh
Hựu nói riêng, ngụy quân, ngụy quyền Gò Công xin viện binh từ Mỹ Tho hòng
trấn áp phong trào nổi dậy của quân dân Gò Công đang dâng cao. Tiểu đoàn
518 do tên "Ba Gà Mổ" chỉ huy nổi tiếng hung dữ hai lần liên tiếp được điều
động tăng viện cho Gò Công. Lần thứ nhất, ngày 18-5-1954, tiều đoàn 518 và
521 cùng lực lượng bảo an trên đường chúng hành quân nhằm ý đồ đánh vào
vùng giải phóng Vĩnh Hựu đã bị bộ đội địa phương Gò Công và du kích liên xã
Long Thạnh, Vĩnh Hựu phối hợp phục kích tại cống Điếu (Bàu Gốc, Long
Thạnh). Trận đánh diễn ra quyết liệt giữa ta và địch từ sáng sớm đến trưa, địch
32
tuy quân số đông nhưng chúng ở thế bị động, một bộ phận lớn sinh lực địch bị
chết và bị thương ngay loạt đạn đầu. Cùng lúc, một bộ phận du kích xã Vĩnh
Hựu bao vây bót Hội đồng My, buộc địch phải rút bớt lực lượng về giải vây cứu
nguy cho bót này. Sự hợp đồng tác chiến cùng lúc trên 2 mặt trận của bộ đội, du
kích đã làm cho binh sĩ địch hoang mang, đội hình rối loạn mất khả năng chiến
đấu, buộc chúng phải rút lui; ý đồ đánh phá vùng giải phóng Vĩnh Hựu của địch
bị bẻ gãy. Nhưng với dã tâm trả thù của địch, chúng tiếp tục tiến hành cuộc hành
quân thứ hai vào đầu tháng 7-1954. Lần này, lúc đầu chúng tỏ ra hung hăng,
nhưng khi vượt qua đất Vĩnh Lợi (nay là Thị trấn Vĩnh Bình), tiểu đoàn 518 do
tên "Ba Gà Mổ" chỉ huy bỗng dưng thất thần chựng lại, chúng không dám tiến
vào địa hình làng Vĩnh Hựu. Lực lượng du kích của ta đã sẵn sàng ứng chiến,
nhưng địch không dám liều lĩnh, chúng đóng quân từ sáng tới trưa ngoài đồng
trống rồi lặng lẽ rút lui. Âm mưu xóa vùng giải phóng Vĩnh Hựu của địch bị
quân dân ta đánh bại hoàn toàn. Niềm vui của Đảng bộ và quân dân Vĩnh Hựu
được nhân đôi, vừa trực tiếp đánh bại hai cuộc hành quân càn quét quy mô lớn
của địch vừa hay tin hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Việt Nam" được ký kết ngày 20-7-1954.
Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ, Đảng bộ và quân dân Vĩnh Hựu đã
phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh
cách mạng, viết nên một trang sử mới rất đỗi tự hào của quê hương. Thành tích
Đảng bộ và quân dân Vĩnh Hựu giành được đã thể hiện bước trưởng thành vượt
bậc về sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của quần chúng; về năng lực tổ chức và
lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc của Đảng bộ với phong trào đấu tranh chính trị
- địch vận và đấu tranh vũ trang. Từ thực tiễn 9 năm kháng chiến gian khổ,
giành thắng lợi vẻ vang, Đảng bộ và quân dân Vĩnh Hựu đã rút ra những bài học
lịch sử quan trọng:
Một là, phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, thực hiện tốt chủ
trương đoàn kết toàn dân của Đảng, cô lập và phân hóa kẻ địch, từng bước làm
thay đổi so sánh lực lượng ở thế có lợi cho ta.
Đây là bài học được chi bộ Đảng Vĩnh Hựu thực hiện nhất quán từ trước
ngày khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám và suốt 9 năm
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chi bộ Đảng luôn luôn biết khơi
dậy và phát huy truyền thống yêu nước của nhân dân, từ đó mà đoàn kết và tập
hợp đựơc các tầng lớp, tín đồ các tôn giáo trong Mặt trận Việt Minh, Mặt trận
Liên Việt, tạo nên lực lượng cách mạng to lớn. Đồng thời, cô lập, phân hóa
mạnh bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của địch; giành thắng lợi cho cách mạng.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị,
binh - tề vận của quần chúng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên từng
cụm tuyến dân cư vững chắc.
33
Bước vào cuộc kháng chiến, lực lượng địch tại chỗ tạm thời mạnh hơn ta
gấp bội về quân số, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Ngược lại, lực lượng vũ
trang của ta tuy còn nhỏ bé về số lượng, trình độ kỹ - chiến thuật chưa cao, vũ
khí trang bị thô sơ, nhưng ta vẫn giữ được vùng căn cứ. Đó là nhờ chi bộ Đảng
Vĩnh Hựu đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Huyện ủy Gò Công vào thực
tiễn vùng căn cứ, kết hợp phong trào đấu tranh võ trang với phong trào đấu tranh
chính trị, binh tề vận của quần chúng để "nhân lên" sức mạnh của cuộc kháng
chiến; đẩy địch vào thế lúng túng, bị động, bế tắc.
Ba là, chăm lo bồi dưỡng sức dân về đời sống vật chất, tinh thần, nâng
cao dân trí và tổ chức quần chúng đấu tranh giành quyền lợi cho quần chúng
nhân dân.
Việc tổ chức thực hiện tốt 10 chính sách lớn về kinh tế - văn hoá - xã hội
của Mặt trận Việt Minh sau Cách mạng Tháng Tám và trong suốt 9 năm kháng
chiến của chi bộ Đảng, Ủy ban hành chính kháng chiến, Mặt trận và các đoàn
thể làng Vĩnh Hựu đã làm cho nhân dân phấn khởi, tin tưởng, một lòng một dạ
gắn bó, phụng sự kháng chiến. Đời sống kinh tế và các quyền dân sinh, dân chủ
được cách mạng đem lại cho nhân dân là cội ngừôn sức mạnh của cách mạng.
Nguồn sức mạnh to lớn đó đã được chi bộ Đảng phát huy toàn diện, hiệu quả
trong đấu tranh cách mạng để giành quyền lợi cho quần chúng nhiều hơn, vững
chắc hơn qua từng thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Bốn là, chi bộ Đảng luôn vững mạnh về tổ chức, nhạy bén và nâng cao
vai trò lãnh đạo; cán bộ, đảng viên gương mẫu, không sợ gian khổ hy sinh, một
lòng một dạ trung thành với Đảng, với nhân dân.
Thực tiễn 9 năm kháng chiến của quân và dân Vĩnh Hựu đã khẳng định
vai trò lãnh đạo năng động, nhạy bén của chi bộ Đảng, sự gương mẫu của cán
bộ, đảng viên trong đấu tranh cách mạng là nguyên nhân quyết định thắng lợi.
Nhờ công tác tổ chức chặt chẽ, nhạy bén với tình hình, chi bộ đã đề ra Nghị
quyết đúng, giảm thiểu được khó khăn, tổn thất; bảo toàn lực lượng đưa cách
mạng tiến lên, giành thắng lợi. Tấm gương chiến đấu hy sinh quên mình của các
cán bộ, đảng viên đã có tác dụng khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống
yêu nước, bất khuất trước kẻ thù xâm lược, đoàn kết quân dân trong cuộc kháng
chiến.


