Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên
Chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong Chiến dịch Tây Nguyên
Cách đây 50 năm (1975-2025), thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên (4-3 đến 3-4-1975), giành thắng lợi vẻ vang; từ đó tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh thế và lực, mở ra thời cơ chiến lược có lợi cho ta, là cơ sở để Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam; là tổng hòa của nhiều nhân tố, trong đó chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ có ý nghĩa quan trọng, quyết định, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:1. Nắm vững thời cơ, chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch chiến lược, chọn Tây Nguyên là hướng chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nướcSau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo ra sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Thực hiện Nghị quyết 21 của Đảng (7-1973), cùng với chỉ đạo quân và dân ta đẩy mạnh các hoạt động phản công, tiến công địch tạo chuyển biến cục diện trên chiến trường, Bộ Chính trị, QUTƯ kịp thời chỉ đạo Cơ quan Tổng hành dinh bắt tay vào xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.Từ cuối năm 1973 đến đầu năm 1974, quân và dân ở miền Nam tiếp tục giành được những thắng lợi rất quan trọng trên mặt trận quân sự, chính trị và chống phá bình định của địch, qua đó tạo ra thế mới và lực mới cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Thời cơ và điều kiện thuận lợi để ta giải phóng miền Nam bắt đầu xuất hiện.Tháng 2-1974, QUTƯ, Bộ Tổng Tư lệnh dự kiến phương hướng chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm (1975-1976), trong đó xác định: Đòn tiến công chính của chủ lực là ở Tây Nguyên. Tháng 9-1974, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh chính thức giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) chuẩn bị mở Chiến dịch Nam Tây Nguyên (tên gọi ban đầu của Chiến dịch Tây Nguyên) với khu vực tác chiến được xác định chủ yếu là Thuần Mẫn và Đức Lập.
Thông qua phương án tác chiến, quyết tâm chiến đấu của Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 2-1975. Ảnh tư liệu Đến tháng 10-1974, Bộ Chính trị nhất trí kế hoạch giải phóng miền Nam, xác định quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh đến mức phát triển cao nhất... giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”(1).Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”(2). Về hướng tiến công chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường, Bộ Chính trị yêu cầu phải chủ động đón thời cơ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược: Tây Nguyên (trọng tâm là Nam Tây Nguyên) là hướng chiến lược quan trọng, chủ yếu; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng. Đánh chiếm được Tây Nguyên sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền và điều kiện thuận lợi để ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện chia cắt địch về chiến lược và phát triển nhanh về Sài Gòn.Sau “đòn trinh sát chiến lược Phước Long”, ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị kết luận: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc...Trên chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, phối hợp với quân chủ lực Miền tiến đánh Sài Gòn”(3). Nhạy bén và sáng suốt, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định chọn Tây Nguyên, địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng về chiến lược làm hướng tiến công chiến lược, mở màn cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là quyết định đúng đắn, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và QUTƯ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh.2. Xác định hướng tiến công và mục tiêu tiến công chiến dịch đúng đắn, sáng tạoTrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với tiến công địch rộng khắp, liên tục ở mọi quy mô, vào những thời điểm quan trọng, trên cơ sở so sánh lực lượng và thế bố trí lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo quân và dân ta tổ chức các chiến dịch lớn đánh vào những nơi hiểm yếu nhưng địch lại sơ hở, để giành thắng lợi, làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch, tạo thời cơ thuận lợi cho ta tiếp tục mở những đòn tiến công chiến lược tiếp theo.Quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, nhận thấy thế và lực của địch đã suy yếu, bị động nhưng Mỹ khó có khả năng can thiệp trở lại, Bộ Chính trị, QUTƯ đã phát hiện thời cơ giải phóng miền Nam. Sau nhiều lần chuẩn bị và thông qua, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng thông qua kế hoạch và quyết tâm tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam lần cuối cùng. Các ý kiến thảo luận tại hội nghị đều nhất trí với phương án của Thường trực QUTƯ chọn hướng chính là Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.Xét về địa lý quân sự, Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng xung quanh Buôn Ma Thuột. Đó là vùng tiếp giáp với đồng bằng Khu 5 và Nam Bộ, giành thắng lợi ở đó có thể dễ dàng phát triển xuống đồng bằng. Chọn Tây Nguyên là ta đã chọn đúng nơi hiểm yếu nhất của địch, bởi vì quân đội Sài Gòn lúc này đang tập trung lực lượng mạnh phòng thủ ở hai đầu (Trị - Thiên và Sài Gòn - Gia Định), yếu và sơ hở ở giữa (Quân khu 2).Đánh vào chỗ địch sơ hở nhưng hiểm, ta có điều kiện mở cuộc tiến công tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Quân khu 1 của địch, trực tiếp uy hiếp Quân khu 3, nhất là Sài Gòn - Gia Định. Thế trận phòng ngự của địch trên toàn miền Nam sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Bộ Chính trị, QUTƯ đã nắm chắc thời cơ và đưa ra quyết định chính xác mở Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.
Bộ đội ta tiến công Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệuTrên địa bàn Tây Nguyên, địch bố trí phòng ngự mạnh ở phía Bắc (Kon Tum, Pleiku). Khu vực Buôn Ma Thuột (Nam Tây Nguyên) được xem như là hậu phương của chúng.Trước ngày ta nổ súng mở màn chiến dịch, địch tập trung 8/10 trung đoàn ở Bắc Tây Nguyên. Tại Nam Tây Nguyên, lực lượng phòng ngự của địch tương đối mỏng, có nhiều sơ hở, dễ bị cô lập. Đây cũng là chiến trường ta có kinh nghiệm tác chiến và điều kiện làm công tác chuẩn bị bảo đảm đòn đánh mở đầu chắc thắng.Đồng chí Lê Trọng Tấn nhận định: “Chọn Nam Tây Nguyên là đánh vào nơi hiểm yếu và nơi địch đề phòng chưa thật tốt lắm”(4). Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình địch, tình hình ta, Bộ Chính trị đồng ý đề xuất của QUTƯ chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt chủ yếu của chiến dịch. Với trận tiến công Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên, ta sẽ đánh vào chỗ yếu chí tử của địch, làm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ về hướng tiến công và quy mô lực lượng của ta. Cuộc tiến công chiến lược của ta có điều kiện phát triển lên thành tổng tiến công chiến lược.Ngày 21-1-1975, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Chiến dịch Tây Nguyên, trong đó giải phóng Buôn Ma Thuột là nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch. Do tầm quan trọng về chiến lược, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên.Quyết định mở Chiến dịch tiến công Tây Nguyên thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo, điều hành chiến tranh. Giải phóng được Tây Nguyên, tạo điều kiện phát triển thuận lợi xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, tiến về hướng Nam uy hiếp Đông Nam Bộ, tiến lên hướng Bắc uy hiếp Kon Tum, Pleiku. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến sự tan rã, sụp đổ về chiến lược của địch, tạo đà cho quân và dân ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện mục tiêu cao nhất: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.3. Chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận cho Chiến dịch Tây NguyênXác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh, rộng khắp, từ năm 1964, QUTƯ và Bộ Quốc phòng đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến trường Tây Nguyên.Đặc biệt, trước khi ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, để tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh (10, 320A, 316 và 968), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25 và 271), 5 trung đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin và một số đơn vị vận tải, tạo ra ưu thế vượt trội lực lượng cả về số lượng và chất lượng so với quân địch.So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp 3-4 lần, tạo nên thế và lực của ta mạnh hơn địch rất nhiều. Đây là một trong những yếu tố trực tiếp đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Nhờ được tăng cường lực lượng, quân và dân Tây Nguyên đã triển khai lực lượng chính trị, quân sự, cả ba thứ quân vào một thế trận chiến lược và cơ động trên toàn chiến trường, tạo thế cài xen giữa ta và địch trên một không gian rộng, vừa thực hiện được chia cắt, vây hãm địch, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.Để tạo thế trận chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch. Trên toàn chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, QUTƯ đã xây dựng thế trận chiến lược tập trung lực lượng lớn ở Huế và Đông Bắc Sài Gòn, buộc đối phương phải căng ra ở hai đầu Nam, Bắc để giữ Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, mở ra khu vực rộng lớn ở miền Trung, Tây Nguyên.Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta ở Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đồng bằng Khu 5 đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch. Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía Tây thành phố Huế. Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía Tây và Tây Nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ. Ở Nam Bộ, LLVT cách mạng cũng liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía Nam Long An... Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện.Để chuẩn bị thế trận chiến dịch, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với LLVT, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện các hoạt động tác chiến nghi binh, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum; tổ chức tuyên truyền nghi binh ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên. Địch tin chắc ta đánh lớn ở khu vực này, do đó đã tập trung phòng thủ, đối phó ở Bắc Tây Nguyên là chính. Trong khi đó, ta chỉ để lại Sư đoàn 968 ở Bắc Tây Nguyên, bí mật đưa 3 sư đoàn (10, 320A và 316), các đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, đặc công vào Nam Tây Nguyên.Thực hiện sự chỉ đạo của QUTƯ “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”(5), Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến điện để liên lạc. Toàn bộ mật danh vô tuyến liên lạc để lại cho Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ, làm cho địch vẫn tưởng 2 sư đoàn chủ lực này vẫn ở sát Pleiku và Kon Tum. Trung đoàn Công binh 7 kết hợp với dân công triển khai rầm rộ mở các trục đường ở Bắc Tây Nguyên để thu hút sự chú ý của địch, làm cho chúng càng tin rằng ta đang chuẩn bị tiến công hướng này. Trong khí đó, công binh ta đã hoàn thành mạng đường cơ động chiến dịch hướng tới Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuột.Mặt khác, để thực hiện nhiệm vụ nghi binh Bộ Tổng Tham mưu giao, cùng với việc sử dụng toàn bộ mật danh vô tuyến điện của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để liên lạc thường xuyên với Bộ, Sư đoàn 968 bất ngờ sử dụng lực lượng đánh chiếm một đoạn Đường 19, cắt đứt tuyến vận chuyển tiếp tế của quân đội Sài Gòn, hình thành thế bao vây chia cắt Pleiku, cô lập quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc, buộc địch huy động lực lượng lên giải tỏa và bảo vệ đường giao thông. Ngoài ra, Sư đoàn 968 còn tổ chức chuẩn bị trận địa ở Điểm cao 946, Bắc Ngọc Quận (Kon Tum) và Bắc Đường số 5A (Pleiku), sẵn sàng bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Cù Hanh và La Sơn để thu hút địch.Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, QUTƯ, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã thực hiện thành công các hoạt động nghi binh, tạo thế, góp phần căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và thời cơ thuận lợi cho các lực lượng trên các hướng chủ yếu tạo nên sức mạnh áp đảo, đẩy mạnh tiến công.Công tác nghi binh đạt hiệu quả cao, tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển nhanh chóng, giành thắng lợi trong các trận then chốt quyết định, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, mở ra thời cơ thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể khẳng định, chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận là một trong những thành công lớn của Bộ Chính trị và QUTƯ trong Chiến dịch Tây Nguyên.Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến mau lẹ, phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác.Các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, với những thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, để tập trung xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:Một là, tập trung xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Thông qua phương án tác chiến, quyết tâm chiến đấu của Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 2-1975. Ảnh tư liệu Đến tháng 10-1974, Bộ Chính trị nhất trí kế hoạch giải phóng miền Nam, xác định quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh đến mức phát triển cao nhất... giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”(1).Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”(2). Về hướng tiến công chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường, Bộ Chính trị yêu cầu phải chủ động đón thời cơ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược: Tây Nguyên (trọng tâm là Nam Tây Nguyên) là hướng chiến lược quan trọng, chủ yếu; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng. Đánh chiếm được Tây Nguyên sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền và điều kiện thuận lợi để ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện chia cắt địch về chiến lược và phát triển nhanh về Sài Gòn.Sau “đòn trinh sát chiến lược Phước Long”, ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị kết luận: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc...Trên chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, phối hợp với quân chủ lực Miền tiến đánh Sài Gòn”(3). Nhạy bén và sáng suốt, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định chọn Tây Nguyên, địa bàn có vị trí vô cùng quan trọng về chiến lược làm hướng tiến công chiến lược, mở màn cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là quyết định đúng đắn, một thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị và QUTƯ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh.2. Xác định hướng tiến công và mục tiêu tiến công chiến dịch đúng đắn, sáng tạoTrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với tiến công địch rộng khắp, liên tục ở mọi quy mô, vào những thời điểm quan trọng, trên cơ sở so sánh lực lượng và thế bố trí lực lượng giữa ta và địch, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo quân và dân ta tổ chức các chiến dịch lớn đánh vào những nơi hiểm yếu nhưng địch lại sơ hở, để giành thắng lợi, làm rung chuyển thế trận chiến lược của địch, tạo thời cơ thuận lợi cho ta tiếp tục mở những đòn tiến công chiến lược tiếp theo.Quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, nhận thấy thế và lực của địch đã suy yếu, bị động nhưng Mỹ khó có khả năng can thiệp trở lại, Bộ Chính trị, QUTƯ đã phát hiện thời cơ giải phóng miền Nam. Sau nhiều lần chuẩn bị và thông qua, ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng thông qua kế hoạch và quyết tâm tổng tiến công chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam lần cuối cùng. Các ý kiến thảo luận tại hội nghị đều nhất trí với phương án của Thường trực QUTƯ chọn hướng chính là Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.Xét về địa lý quân sự, Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng xung quanh Buôn Ma Thuột. Đó là vùng tiếp giáp với đồng bằng Khu 5 và Nam Bộ, giành thắng lợi ở đó có thể dễ dàng phát triển xuống đồng bằng. Chọn Tây Nguyên là ta đã chọn đúng nơi hiểm yếu nhất của địch, bởi vì quân đội Sài Gòn lúc này đang tập trung lực lượng mạnh phòng thủ ở hai đầu (Trị - Thiên và Sài Gòn - Gia Định), yếu và sơ hở ở giữa (Quân khu 2).Đánh vào chỗ địch sơ hở nhưng hiểm, ta có điều kiện mở cuộc tiến công tiếp theo giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập Quân khu 1 của địch, trực tiếp uy hiếp Quân khu 3, nhất là Sài Gòn - Gia Định. Thế trận phòng ngự của địch trên toàn miền Nam sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Bộ Chính trị, QUTƯ đã nắm chắc thời cơ và đưa ra quyết định chính xác mở Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.
Bộ đội ta tiến công Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệuTrên địa bàn Tây Nguyên, địch bố trí phòng ngự mạnh ở phía Bắc (Kon Tum, Pleiku). Khu vực Buôn Ma Thuột (Nam Tây Nguyên) được xem như là hậu phương của chúng.Trước ngày ta nổ súng mở màn chiến dịch, địch tập trung 8/10 trung đoàn ở Bắc Tây Nguyên. Tại Nam Tây Nguyên, lực lượng phòng ngự của địch tương đối mỏng, có nhiều sơ hở, dễ bị cô lập. Đây cũng là chiến trường ta có kinh nghiệm tác chiến và điều kiện làm công tác chuẩn bị bảo đảm đòn đánh mở đầu chắc thắng.Đồng chí Lê Trọng Tấn nhận định: “Chọn Nam Tây Nguyên là đánh vào nơi hiểm yếu và nơi địch đề phòng chưa thật tốt lắm”(4). Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình địch, tình hình ta, Bộ Chính trị đồng ý đề xuất của QUTƯ chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu then chốt chủ yếu của chiến dịch. Với trận tiến công Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên, ta sẽ đánh vào chỗ yếu chí tử của địch, làm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ về hướng tiến công và quy mô lực lượng của ta. Cuộc tiến công chiến lược của ta có điều kiện phát triển lên thành tổng tiến công chiến lược.Ngày 21-1-1975, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ bổ sung cho Chiến dịch Tây Nguyên, trong đó giải phóng Buôn Ma Thuột là nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch. Do tầm quan trọng về chiến lược, Bộ Chính trị, QUTƯ quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên.Quyết định mở Chiến dịch tiến công Tây Nguyên thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị, QUTƯ và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo, điều hành chiến tranh. Giải phóng được Tây Nguyên, tạo điều kiện phát triển thuận lợi xuống các tỉnh duyên hải miền Trung, tiến về hướng Nam uy hiếp Đông Nam Bộ, tiến lên hướng Bắc uy hiếp Kon Tum, Pleiku. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến sự tan rã, sụp đổ về chiến lược của địch, tạo đà cho quân và dân ta tổ chức các chiến dịch tiếp theo, thực hiện mục tiêu cao nhất: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.3. Chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận cho Chiến dịch Tây NguyênXác định Tây Nguyên là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với chủ trương xây dựng lực lượng tại chỗ vững mạnh, rộng khắp, từ năm 1964, QUTƯ và Bộ Quốc phòng đã đưa một số đơn vị chủ lực vào chiến trường Tây Nguyên.Đặc biệt, trước khi ta mở Chiến dịch Tây Nguyên, để tạo ưu thế về lực lượng, phương tiện cho đòn mở đầu tiến công chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, QUTƯ đã chỉ đạo điều động đến Tây Nguyên một lực lượng lớn gồm 4 sư đoàn bộ binh (10, 320A, 316 và 968), 4 trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25 và 271), 5 trung đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng, 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn thông tin và một số đơn vị vận tải, tạo ra ưu thế vượt trội lực lượng cả về số lượng và chất lượng so với quân địch.So với lực lượng của đối phương, lực lượng của ta trên chiến trường Tây Nguyên gấp 3-4 lần, tạo nên thế và lực của ta mạnh hơn địch rất nhiều. Đây là một trong những yếu tố trực tiếp đưa Chiến dịch Tây Nguyên đến toàn thắng. Nhờ được tăng cường lực lượng, quân và dân Tây Nguyên đã triển khai lực lượng chính trị, quân sự, cả ba thứ quân vào một thế trận chiến lược và cơ động trên toàn chiến trường, tạo thế cài xen giữa ta và địch trên một không gian rộng, vừa thực hiện được chia cắt, vây hãm địch, vừa tạo ra thế chủ động tiến công địch.Để tạo thế trận chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và QUTƯ đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiến hành một loạt các biện pháp nghi binh rất công phu, tích cực để thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch. Trên toàn chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị, QUTƯ đã xây dựng thế trận chiến lược tập trung lực lượng lớn ở Huế và Đông Bắc Sài Gòn, buộc đối phương phải căng ra ở hai đầu Nam, Bắc để giữ Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, mở ra khu vực rộng lớn ở miền Trung, Tây Nguyên.Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với Chiến dịch Tây Nguyên, quân và dân ta ở Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đồng bằng Khu 5 đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch. Quân đoàn 2 mở chiến dịch tiến công phía Tây thành phố Huế. Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5 mở đợt hoạt động ở phía Tây và Tây Nam thành phố Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ. Ở Nam Bộ, LLVT cách mạng cũng liên tiếp tổ chức các trận tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một vùng rộng thuộc tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông và 12 xã phía Nam Long An... Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến trường đã tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển tiến công thuận lợi, giành thắng lợi nhanh chóng, thời cơ giải phóng dải đất Trung Trung Bộ xuất hiện.Để chuẩn bị thế trận chiến dịch, Bộ Chính trị, QUTƯ chỉ đạo Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức cho các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với LLVT, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện các hoạt động tác chiến nghi binh, tập trung chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum; tổ chức tuyên truyền nghi binh ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên. Địch tin chắc ta đánh lớn ở khu vực này, do đó đã tập trung phòng thủ, đối phó ở Bắc Tây Nguyên là chính. Trong khi đó, ta chỉ để lại Sư đoàn 968 ở Bắc Tây Nguyên, bí mật đưa 3 sư đoàn (10, 320A và 316), các đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, pháo binh, thông tin, đặc công vào Nam Tây Nguyên.Thực hiện sự chỉ đạo của QUTƯ “phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung sự chú ý vào việc bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”(5), Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến điện để liên lạc. Toàn bộ mật danh vô tuyến liên lạc để lại cho Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ, làm cho địch vẫn tưởng 2 sư đoàn chủ lực này vẫn ở sát Pleiku và Kon Tum. Trung đoàn Công binh 7 kết hợp với dân công triển khai rầm rộ mở các trục đường ở Bắc Tây Nguyên để thu hút sự chú ý của địch, làm cho chúng càng tin rằng ta đang chuẩn bị tiến công hướng này. Trong khí đó, công binh ta đã hoàn thành mạng đường cơ động chiến dịch hướng tới Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuột.Mặt khác, để thực hiện nhiệm vụ nghi binh Bộ Tổng Tham mưu giao, cùng với việc sử dụng toàn bộ mật danh vô tuyến điện của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để liên lạc thường xuyên với Bộ, Sư đoàn 968 bất ngờ sử dụng lực lượng đánh chiếm một đoạn Đường 19, cắt đứt tuyến vận chuyển tiếp tế của quân đội Sài Gòn, hình thành thế bao vây chia cắt Pleiku, cô lập quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc, buộc địch huy động lực lượng lên giải tỏa và bảo vệ đường giao thông. Ngoài ra, Sư đoàn 968 còn tổ chức chuẩn bị trận địa ở Điểm cao 946, Bắc Ngọc Quận (Kon Tum) và Bắc Đường số 5A (Pleiku), sẵn sàng bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Cù Hanh và La Sơn để thu hút địch.Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, QUTƯ, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã thực hiện thành công các hoạt động nghi binh, tạo thế, góp phần căng kéo, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ và thời cơ thuận lợi cho các lực lượng trên các hướng chủ yếu tạo nên sức mạnh áp đảo, đẩy mạnh tiến công.Công tác nghi binh đạt hiệu quả cao, tạo đà cho Chiến dịch Tây Nguyên phát triển nhanh chóng, giành thắng lợi trong các trận then chốt quyết định, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, mở ra thời cơ thuận lợi để quân và dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể khẳng định, chỉ đạo chuẩn bị lực lượng, tổ chức nghi binh và tạo lập thế trận là một trong những thành công lớn của Bộ Chính trị và QUTƯ trong Chiến dịch Tây Nguyên.Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến mau lẹ, phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và sẵn sàng can dự, chi phối vào nội bộ nước khác.Các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, với những thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, để tập trung xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt một số nội dung sau:Một là, tập trung xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, bảo đảm luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.


