CHỈ MỘT CON ĐƯỜNG
Đoạn hồi ký kể về quá trình trưởng thành của tác giả sau những trận chiến ác liệt trong kháng chiến chống Pháp. Sau trận Gò Rang với nhiều tổn thất, tác giả tiếp tục học tập, rèn luyện chính trị và quân sự tại lớp đào tạo cán bộ của Liên khu 5, từ đó được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng địch hậu. Sau khi hoàn thành khóa học, tác giả được điều động tham gia Trung đoàn 120 hoạt động tại khu vực Tây Nguyên, trực tiếp làm chính trị viên đội vũ trang tuyên truyền để vận động nhân dân cá
Từ khi dấn thân đi theo con đường của Đảng, tôi luôn tự nhủ, nguyện hi sinh cống hiến sức mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, nên trước gian khổ không hề nản chí, trước ác liệt khó khăn không hề lùi bước. Những anh em còn sống, ai cũng rơi lệ trước linh cữu 12 đồng đội hi sinh, lòng tôi đau như ai cầm dao cắt ruột. tôi tự nhận thấy nhiệm vụ của Đảng giao chưa hoàn thành, ra quân lần đầu bị thương vong lớn. Đồng chí Bí thư huyện ủy Vũ Trọng Hoàng và Huyện đội trưởng Nguyễn Xuân Hùng vỗ vai tôi nói:
- Làm người Cộng sản phải biết “thắng không kiêu, bại không nản”. Đồng chí hãy bình tĩnh nén đau thương, sớm đưa đơn vị về Quế Châu để củng cố và xây dựng rồi tiếp tục chiến đấu để trả thù cho anh em, cho bà con.
Trận Gò Rang trở thành bài học kinh nghiệm về chiến thuật phục kích đánh địch đi càn của bộ đội địa phương Quế Sơn. Ưu điểm dễ nhận thấy của bộ đội ta trong trân đánh này là công tác chính trị tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ, xác định ý chí tiến công trước quân địch, gặp ác liệt vẫn giữ tinh thần, không rời trận địa, quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để giành chiến thắng. Tấm gương của đồng chí Nguyễn Tấn Châu đại đội trưởng, Nguyễn Cầm tiểu đội trưởng giúp cho các chiến sĩ giữ vững quyết tâm, chuyển thế bị động sang chủ động, làm cho địch khiếp sợ buộc phải tháo chạy. Nếu đem ra so sánh thì quân địch đông hơn ta gắp năm lần, vũ khí hiện đại gấp 100 lần, nhưng rồi kết quả của trận đánh vừa qua thì xác định được quyết tâm của bộ đội ta trước một kẻ thù hung hăng nhưng bạc nhược về tinh thần. Mặt khác, trận phục kích này đã đánh bại cuộc càn quét dài ngày của quân địch và phá được ý định hợp điểm hai cánh quân địch tại Gò Rang.
Biên chế của đơn vị ổn định công tác tư tưởng đã xác định, toàn đơn vị bước vào giai đoạn huấn luyện mới đáp ứng tình hình cách mạng phát triển. Đến tháng 11 năm 1947 đại đội mới được trang bị 30% vũ khi, còn lại dùng vũ khí thô sơ nhưng được huấn luyện thuần thục về võ thuật và các động tác kĩ thuật chiến thuật đánh địch. Đại đội được lệnh ra quân bao vây cứ điểm Núi Đất. Núi Đất là một ngọn đồi trọc đá sỏi, giữa đồng bằng phái tây nam sông Bà Rén cao 65 mét. Từ đỉnh cao này địch có thể quan sát một vùng rộng lớn từ dưới đường sắt Quế Sơn đến các làng Mậu Hòa, Kiệu Trung, Cầu Chìm (Duy Xuên). Đợt bao vây cứ điểm Núi Đất của bộ đội địa phương Quế Sơn, nhằm cầm chân bọn địch trong đồn, tạo điều kiện cho lực lượng dân quân du kích của các xã đánh bọn “nghĩa dũng” và “Việt binh đoàn”, bảo vệ cho dân Dưỡng Xuân thu hoạch vụ mùa. Từ thắng lợi của đợt hoạt động này gây niềm phấn khởi tin tưởng trong đơn vị. Đại đội tổ chức sinh hoạt chính trị xây dựng tinh thần chiến đấu, bồi dưỡng dũng khí cách mạng cho cộng sản. Sau đợt học tập, tôi được học văn hóa theo sự điều động của cáp trên, đồng chí Văn Hiếu (trong kháng chiến đánh Mĩ đồng chí là Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam, hi sinh năm 1969) thay tôi về làm chính trị viên đại đội. Cho đến sau này, trận Gò Rang vẫn còn ám ảnh trong tôi, vì vậy trên bước đường công tác tôi có dịp suy nghiệm từ thực tiễn để có những ý tưởng tốt góp phần làm nên chiến thắng.
Sau 6 tháng học ở trường văn hóa, tôi nhận quyết định của tỉnh Quảng Nam đi động về phòng chính trị Liên khu 5 để theo học lớp đào tạo cán bộ gây cơ sở vùng địch hâu. Từ Quế Sơn, vai ba lô chân dép lốp đi bộ vào Tam Kì, rồi theo đò dọc Sông Trường vào An Tân tiếp tục đáp xe lửa đến Hòa Vinh Tây ở Quảng Ngãi. Từ đây, tôi đi bộ về phòng chính trị Liên khu lúc đó đóng ở Nghĩa Hành. Đến đây tôi mừng vì tưởng đã đến lớp học, nào ngờ lóp học này lại ở gần trường lục quân. Thế là tôi lại phải khăn gói hành quân trở ra dự lớp tại Sơn Tịnh. Do đặc điểm của trường, anh Tôn Thất Hoàng là giám đốc nhà trường, nhưng chưa phải là đảng viên, anh Hùng Cường làm chính trị viên nhà trường mới là đảng viên dự bị. tôi tuy là học viên, lại là đảng viên chinh thức đã qua Bí thư chi bộ, nên được phòng chính trị Liên khu chỉ định làm Bí thư chi bộ Đảng. Như vậy, tôi vừa là học viên vừa là cán bộ làm công tác Đang của nhà trường trong suốt 8 tháng học tập.
Lần đầu tiên được học tập nội dung công tác gây dựng cở ở vùng địch hậu tôi thấy nhiều điều mới mẻ quá. Muốn tiếp thu được bài tốt, tôi phải chuyên tâm nghiên cứu sâu các vấn đề về âm mưu thủ đoạn của địch trên cả 3 vùng, ở mỗi thời điểm khác nhau. Học tập xây dựng cơ sở vùng địch hậu là địa bàn các tỉnh thuộc Liên khu 5 như: Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa… Đặc biệt là ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Khi học tập tình hình vùng địch hậu các tỉnh này cấp trên đã liên hệ vùng địch hậu các tỉnh phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn có những đặc thù riêng để chúng tôi liên hệ thực tế, vì ở đây tập trung hơn mười dân tộc anh em sinh sống. Về bản chất của quân địch thì vùng bị chiếm nào dưới sự kiểm soát của chúng, đều thực hiện cai trị giống nhau như lập tề xây dựng bộ máy kìm kẹp nhân dân từ làng đến tổng, huyện, tỉnh; lực lượng vũ trang của chúng tổ chức trên cơ sở lôi kéo những người nhẹ dạ, ham danh vọng, hám tiền, chúng cài đặt những tên có nợ máu với nhân dân dưới thời Nhật, Pháp vào bộ máy tay sai. Khi lập điểm kiểm soát, chúng thường chiếm những vùng đông dân có vị trí chiến lược như thị trấn, thị xã, thành phố để từ đây mở rộng vùng kiểm soát ra chung quanh. Ở những vùng không kiểm soát được thì chúng dùng biện pháp khủng bố, đốt nhà, cướp của, cướp trâu bò, hãm hiếp phụ nữ gây hoang mang trong dân chúng. Tôi còn được học tập các nguyên tắc: Giữ bí mật, tạo bất ngờ; các phương châm kiên trì bám dân, thực hiện ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm, dựa vào dân xây dựng nòng cốt thành công các đoàn thể; phương thức sử dụng đội vũ trang tuyên truyền đi trước xây dựng cơ sở, đến khi có hành lang và bàn đạp, làm chỗ dựa cho các đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung đánh địch mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng kiểm soát của địch. Từ các nội dung nghiên cứu đó, tôi biết việc xây dựng cơ sở vùng địch hậu ở Tây Nguyên là vô cùng cần thiết cho một chiến lược lâu dài để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của đồng bào các dân tộc trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Tôi còn nhớ như in các bài “Các nguyên tắc, phương châm, phương thức” do đồng chí Trần Lương - Phó chỉ huy Liên khu 5 giảng (Đồng chí Trần Lương sau là Trần Nam Trung - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam); bài “Nội dung các vấn đề chính sách dân tộc của Đảng” do đồng chí Phó bí thư Liên Khu ủy Bùi San trực tiếp truyên đạt; bài “Âm mưu thủ đoạn của địch ở chiến trường Liên khu” do đồng chí Lê Cầu - Trưởng ban quân báo giảng (Sau này anh Cầu công tác ở phòng quân báo Bộ Tư lệnh miền và bị địch bắt giam tại Côn Đảo đến năm 1975 anh mới trở về). Đó cũng là lần đầu tiên tôi được dự một lớp học về công tác vận động cách mạng cơ bản như vậy. Từ sau khi dự lớp, tình độ chính trị quân sự bản thân tôi được nâng lên một bước, như mở ra tầm nhìn kiến thức khoa học cả về lí luận và thực tiễn rộng lớn sâu sắc. Tôi nhìn sự vật trong sự cảm nhận của lí trí, biết được sự vật đó phát triển có nguyên nhân và có kết quả (nguyên nhân nào thì kết quả đó). Bây giờ lớn lên tham gia công tác cách mạng, được Đảng cho ăn học tôi mới thấy thấm thía lời nói mộc mạc của cha tôi ngày trước “Người có học thì gié lúa cũng biết chọn hướng gió”, không thấy thì khó làm việc nhỏ đến việc lớn có hiệu quả. Việc học luôn luôn cần thiết với nhiều thế hệ.
Lớp học kết thúc, tôi được cấp trên quyết định làm Bí thư chi bộ, trưởng đoàn học viên lớp xây dựng cơ sở vùng địch hậu về công tác ở trung đoàn 120 bắc Tây Nguyên. Tuổi trẻ trong tôi lúc đó phơi phới, tình yêu đất nước quê hương, tình yêu Đảng lúc nào cũng chất chứa niềm vui khó tả. Tôi ý thức, người cách mạng không chỉ biết hoàn thành công tác được giao mà phải làm cho người khác tin yêu, mến phục mới là người cán bộ tốt. Tôi xác định con đường của tôi là đi theo Đảng làm cách mạng đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội công bằng tự do và hạnh phúc như anh chị em, đồng chí khác.
Tôi cầm tờ quyết định trên tay mà hai tiếng Tây Nguyên như có sự thúc giục lôi cuốn trong tôi. Địa bàn Tây Nguyên, qua sử sách tôi được biết. Trong xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dốc mọi cố gắng nhằm kiểm soát chặt với mưu đồ nắm dân, mua chuộc dụ dỗ đồng bào dân tộc, cố thủ vùng đất này để bảo vệ Đông Dương. Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, trong tình hình Cách mạng Tháng 8 của dân tộc ta mới thành công chưa đầy một năm, chính quyền cơ sở ta chưa kịp tổ chức giác ngộ đồng bào các dân tộc, thì quân Pháp đã chiếm Tây Nguyên. Chúng dốc sức bình định Tây Nguyên để giữ thế chiến lược ở phía nam Đông Dương. Bọn chóp bu thực dân cho rằng: “Muốn chiến thắng Cộng sản thì phải kiểm soát bằng đợc vùng chiến lược này”. Tây Nguyên có biên giới giữa ba nước Đông Dương là Việt Nam - Lào - Campuchia, là địa bàn chiến lược quan trọng sống còn của miền Trung và cả nước ta; là địa bàn cộng đồng 43 dân tộc anh em. Người Kinh đông nhất tập trung sống ở các tỉnh ven biển và thành phố, thị xã. Người Dẻ Triêng, Sê Đăng, Ba Na, Gia Rai ở Gia Lai, Kon Tum; người Ê Đê, Mơ Nông ở Đắc Lắc; người Răclây ở miền Tây Khánh Hòa và Ninh Thuận, người Re ở miền tây Quảng Ngãi, người Kơtu, Katăng, Ve, Đê, Kor, Lodong, Bơ Nông, Lạc, Chăm, Roi sống ở các vùng thuộc Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng. Dân tộc ít người nhất là dân tộc Rơ Năm sống ở Chư mơ rộng, Plei Mơnông huyện Sa Thầy (Kon Tum) sát biên giới Campuchia… Tuy dân cư sống thưa thớt, trình độ kinh tế, văn hóa chưa phát triển, nhưng Tây Nguyên là căn cứ lâu dài bền vững của cách mạng, người Tây Nguyên kiên cường bất khuất trước quân thù, thủy chung son sắt với cách mạng, tin yêu Đảng, tôn kính Bác Hồ, sẵn sàng kề vai sát cánh cùng nhau chống kẻ thù chung.
Địa bàn bắc Tây Nguyên gồm 2 tỉnh: Gia Lai và Kon Tum. Tỉnh Gia Lai phần lớn diện tích núi cao. Phía đông: đèo Mang Giang đến thung lũng An Khê, Kongchro, phía đông nam, thung lũng Cheo Reo có đồng bằng Azunha, Kôngpa, phía đông bắc có dãy núi Kôngkakinh cao 1761 mét, từ dãy núi chạy về phía nam chia thành 2 hệ: hệ núi dọc biên giới phía Đông tỉnh chạy vào Nam, tạo thành độ cao phân cách giữa Gia Lai với các tỉnh đồng bằng duyên hải Khánh Hòa, Ninh Thuận, với các núi: Kôngmroiu cao 1251 mét, Kôngkbang 1064 mét, rồi thấp dần với các đỉnh cao dưới 100 mét và đứt đột ngột ở đèo An Khê, rồi lại nhô lên phía đông huyện KôngChro với các núi Komhde cao 1017 mét, KomLong cao 1020 mét, KonWanRiom 1300 mét và thấp dần vào đồng bằng Konchueng với các đỉnh cao 1383 mét, 1571 mét, 1567 mét. Hệ núi này chia tỉnh Gia Lai thành 2 phần: sườn tây Trường Sơn và sườn đông Trường Sơn; phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum có núi Hereng cao 1045 mét; phía bắc thành phố Pleiku có các dãy núí Chư Mâm cao 1484 mét, Chưzo cao 1402 mét.
Tháng 3 năm 1949, đoàn cán bộ cơ sở xây dựng vùng địch hậu của trường chính trị Liên khu 5 về đến ban chỉ huy trung đoàn 120 Tây Nguyên đóng quân ở Bình định. Trung đoàn 120 vốn là của hai trung đoàn 94 và 95 sáp nhập lại trực tiếp hoạt động tác chiến ở chiến trường Gia Lai. Liền sau khi đoàn cán bộ xây dựng cơ sở đến, ban chỉ huy trung đoàn thành lập đội vũ trang tuyên truyền 103 đủ 30 người. Hầu hết anh em là đảng viên, từ cán bộ đến tiểu đoàn phó trở lên trung đội, văn hóa từ yếu lược đến priamire. Thời bấy giờ mà chọn cán bộ như vậy là rất khó. Đội vũ trang tuyên truyền 103 lúc đầu do đồng chí Trần Đức Thăng làm đội trưởng, tôi làm chính trị viên. Trước khi ra công tác, mọi người phải qua một thời gian huấn luyện quân sự, chủ yếu là học sử dụng các loại vũ khí cá nhân, nắm chắc chiến thuật và các thế võ thuật để tự vệ khi có địch tấn công. Bên cạnh đó chúng tôi còn được học tiếng dân tộc Ba Na, Giơrai; học các bài ca truyền thống về Tây Nguyên. Một thuận lợi cho chúng tô lúc bấy giờ là có được sự hướng dẫn của đồng chí Siu Năng - chính trị viên đại đội người dân tộc Giơrai thông thạo tiếng Kinh, biết tiếng Pháp, có trình độ văn hóa diplome, hiểu phong tục tâp quán đồng bào các dân tộc trên sườn đông Trường Sơn. Hàng tuần chúng tôi được tập trung để kiểm tra, bằng cách dùng tiếng dân tộc để nói chuyện với các chiến sĩ người dân tộc, hoặc giảng viên hướng dẫn gợi ý đặt câu hỏi cho chúng tôi trả lời. Bằng cách học đó, hầu hết cán bộ được sát hạch đều đạt yêu cầu, có đồng chí giỏi viết và nói thông thạo tiếng Ba Na. Tôi còn nhớ lúc về trung đoàn, mới 23 tuổi, lứa tuổi còn quá trẻ so với nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên tôi luôn tin tưởng và sự lãnh đạo của cấp trên nên không ngại việc, ngại khổ. Tôi tự giác làm việc, tự giác đúc rút kinh nghiệm và đánh giá mức thành công của công việc đã làm. Sở dĩ tôi có quyết tâm như vậy là vì tôi muốn tự khẳng định mình trước “sa mạc” thực tế của công tác phía trước.
Sau khi biên chế lại, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, trung đoàn 120 được giao phụ trách địa bàn tây Bình Định và chiến trường Gia Lai. Ban chỉ huy trung đoàn lúc đó có đồng chí Trương Cao Dũng, trung đoàn trưởng và Nguyễn Duy Đề, chỉ huy. Trung đoàn 120 có 1 tiểu đoàn tập trung, 4 đại đội độc lập (quân số mỗi đại đội hơn 300 người) và 3 đội vũ trang tuyên truyền (101, 102, 103) phương hướng nhiệm vụ của trung đoàn trong giai đoạn này là đưa các đôi vũ trang tuyên truyền tiến sâu vào vùng sau lưng địch, xây dựng và phát triển cơ sở, đẩy mạnh địch, ngụy vận, phát triển du kích chiến tranh, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta. Trên khắp các chiến trường bắc Tây Nguyên gồm 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum do trung đoàn 120 phụ trách theo phương châm 3 vùng: vùng bị địch chiếm, vùng du kích, vùng căn cứ địa. Về phương thức hoạt động, lực lượng vũ trang trên chiến trường ở vùng địch hậu là: vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. 3 giai đoạn này thể hiện trên từng bước đi:
- Các đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ tiến sâu vào vùng sau lưng địch, tuyên truyền giác ngộ nhân dân đoàn kết chống Pháp, xây dựng các cơ sở quần chúng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, tiến hành công tác địch ngụy vận, diệt tề trừ gian, tổ chức dân quân du kích đánh địch giữ buôn làng.
- Thực hiện phương châm, kiên nhẫn, thận trọng, chắc chắn, lấy vận động chính trị làm chính. Hết sức giữ bí mật, không rầm rộ, lộ liễu.
- Mỗi đội vũ trang tuyên truyền chỉ biên chế trên dưới 30 cán bộ chiến sĩ, phần lớn là người Kinh và một phần các chiến sĩ dân tộc có phẩm chất tốt, vững vàng được trang bị vũ khí gọn nhẹ và quần áo để cải trang, còn được cấp phát một số tiền Đông Dương để mua bán trong vùng địch.
- Được cấp ủy địa phương bổ sung cán bộ có kinh nghiệm công tác ở các vùng đồng bào dân tộc, thạo tiếng nói dân tộc. Khi hoạt động ngoài vũ khí cá nhân còn mang theo nông cụ như rựa, rìu, cuốc… cong (kiềng bạc, đồng) chuỗi cườm và muối để trao đổi với nhân dân.
- Trong các đội vũ trang tuyên truyền thường phải tổ chức trinh sát đi nắm tình hình, chuẩn bị đường sá mọi mặt cho đội theo sau mở rộng phạm vi tuyên truyền. Đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ chuẩn bị địa bàn và những điều kiện cần thiết cho đại đội độc lập hoạt động tiếp theo.
- Đại đội độc lập, thường là một đại đội tăng cường có 4 hoặc 5 trung đội, phụ trách 1 vùng (tương đương với 1 huyện đã có cơ sở tương đối rộng rãi, có chính quyền và tổ chức lực lượng võ trang, tổ chức đoàn thể do đội vũ trang tuyên truyền giao lại, kết hợp chặt chẽ với cấp ủy địa phương kèm cặp và phát triển dân quân du kích, bộ đội địa phương huyện hay vùng liên xã. Các đại đội độc lập phải biết phân tán và tập trung linh hoạt để chống càn quét, đánh phá giao thông địch, phá âm mưu dồn dân của địch, phát triển lực lượng du kích.
Võ trang tuyên truyền là một việc làm mới mẻ, các đơn vị lại đi sâu vào lòng địch hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc. Vì vậy Ban chỉ huy trung đoàn phân công đồng chí Nguyễn Thuận (Sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục dân quân, Bộ Quốc phòng), trung đoàn phó phụ trách các đội vũ trang, thường xuyên theo dõi chỉ đạo hoạt động hàng ngày.
Để tiến hành các bước trên đây, Ban chỉ huy trung đoàn phân công 3 đội vũ trang tuyên truyền về hoạt động các địa bàn:
- Đội vũ trang tuyên truyền 101, do đồng chí Phan Thanh làm đội trưởng và đồng chí Nguyễn Khoa là chính trị viên, có nhiệm vụ gây dựng cơ sở vùng tây nam đường 4 giáp đồn điều Bàu Cạn.
- Đội vũ trang tuyên truyền 102, do đồng chí Rah Lan Boat, làm đội trưởng và đồng chí Đoàn Xảo (Đoàn Xảo tức Đoàn Y Thanh nay là thiếu tướng Phó tư lệnh Quân khu 5 đã nghỉ hưu) làm chính trị viên, gây dựng cơ sở ở vùng ĐakĐoa - Biển Hồ (đông bắc Tây Nguyên) rồi từ đó tiến dần lên xây dựng cơ sở phía tây bắc đường 14.
- Đội vũ trang tuyên truyền 103, do đồng chí Trần Đức Thăng, làm đội trưởng tôi - Nguyễn Huy Chương làm chính trị viên gây dựng cơ sở ở vùng ĐakBơt, vùng tây nam Plêiku, vùng Desơrơn, vùng ĐêKur, phía đông đường 14, phía nam đường 19.
Nắm vững phương châm hoạt động, phương thức tiến hành vũ trang tuyên truyền, các đội vũ trang tuyên truyền 101, 102, 103 tổ chức hành quân ra phía trước, tỏa đi các vùng đồng bào dân tộc, trong cao trào cách mạng của những năm đầu kháng chiến chống Pháp đã thu được những thắng lợi vững chắc.


