Anh hùng Lực lượng vũ trang

CHÍ SĨ ĐỖ VĂN Y – VỊ BÍ THƯ TÀI HOA CỦA KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ VÀ CHÍ KHÍ KHÔNG KHUẤT PHỤC TRONG THƠ TÙ MIỀN NAM

Đồng Tháp14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHÍ SĨ ĐỖ VĂN Y – VỊ BÍ THƯ TÀI HOA CỦA KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ VÀ CHÍ KHÍ KHÔNG KHUẤT PHỤC TRONG THƠ TÙ MIỀN NAM

Chí sĩ Đỗ Văn Y sinh năm 1892 tại làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Sinh ra trong một thế gia danh tiếng tại vùng đất học Hòa An — nơi cũng là bệ đỡ cho nhiều nhà yêu nước tiền bối — ông sớm được tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến và tốt nghiệp trường Sư phạm Gia Định.

Tuy nhiên, giữa bối cảnh nước nhà đang chịu ách đô hộ của thực dân, người thanh niên yêu nước ấy đã quyết định bỏ nghề gõ đầu trẻ để dấn thân vào con đường gập ghềnh của phong trào Duy Tân. Ông cùng người đồng chí thân thiết là nhà cách mạng, nghệ sĩ tài danh Mạnh Tự Trương Duy Toản lên đường xuất dương tìm phương kế cứu nước. Với tư duy sắc bén và khả năng thông thạo tiếng Đức, Đỗ Văn Y đã được tin tưởng giao trọng trách làm bí thư cho Kỳ Ngoại hầu Cường Để trong suốt chuyến Âu du lịch sử nhằm tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế cho phong trào độc lập của Việt Nam.

Hoạt động ngoại giao cách mạng của ông tại châu Âu đã lọt vào tầm ngắm của mạng lưới mật thám Pháp. Ít lâu sau, ông bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi nước Pháp, áp giải về Sài Gòn và chịu lệnh quản thúc nghiêm ngặt. Không chịu khuất phục trước sự kìm kẹp, sau khi hết hạn quản thúc, ông xuôi về vùng đất Tây Đô (Cần Thơ) nhận làm quản lý cho nhà in An Hà. Tại đây, ông mượn danh nghĩa xuất bản để ngầm truyền bá tư tưởng tiến bộ và tập hợp lực lượng yêu nước.

Trải qua nhiều năm bôn ba, đối mặt với sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù khiến nhiều phong trào bị tổn thất, cụ Đỗ Văn Y lui về sống ẩn dật, dành phần lớn thời gian để chuyên tâm nghiên cứu, sưu tầm và gìn giữ dòng văn học yêu nước miền Nam — vũ khí tinh thần vô giá của đồng bào Nam Bộ qua các thời kỳ.

Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc, uy tín và tài năng của cụ Đỗ Văn Y một lần nữa được khẳng định khi cụ trúng cử trở thành Đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1946. Khi thực dân Pháp quay trở lại tái chiếm Nam Bộ, cụ dũng cảm ở lại cùng đồng bào chiến đấu và bị giặc bắt giam.

Suốt hai năm bị giam cầm (1946 – 1948), dù kẻ thù dùng mọi biện pháp tinh vi hòng khuất phục một vị Đại biểu Quốc hội, cụ vẫn giữ vững khí tiết kiên trung của người chiến sĩ cách mạng cho đến khi được trả tự do. Những năm tháng cuối đời, cụ lên sinh sống tại Sài Gòn và tạ thế tại đây vào năm 1968, hưởng thọ 76 tuổi.

Không chỉ là một nhà hoạt động chính trị, chí sĩ Đỗ Văn Y còn là một thi sĩ mang đậm khí chất hào sảng, ngạo nghễ của người dân Nam Bộ. Hai tác phẩm tiêu biểu của ông là Con gà nòiNgồi tù đã khắc họa chân thực cốt cách, lòng yêu nước và tinh thần lạc quan cách mạng của ông trước nanh vuốt kẻ thù.

1. Bài thơ: Con Gà Nòi

Bài thơ mượn hình ảnh "con gà nòi" (gà chọi) — một biểu tượng quen thuộc trong văn hóa dân gian Nam Bộ để ẩn dụ cho chí khí của người chiến sĩ cách mạng. Giữa đêm tối mịt mùng của thân phận mất nước, người chiến sĩ ấy vẫn tự ý thức trách nhiệm "cất tiếng kêu người gáy ó o" để thức tỉnh quốc dân đồng bào. Dù phải "đổ máu trường trung", đối mặt với hiểm nguy, gian khổ và cả sự cô độc ("phận quả cô"), người chiến sĩ vẫn quyết giữ danh thơm trọn vẹn, sẵn sàng bước vào "một trận ăn thua" với kẻ thù để đền đáp công phu, hoài bão cứu nước.

"Nửa đêm thức dậy tối đen mò

Cất tiếng kêu người gáy ó o.

Đổ m.á.u trường trung lòng chẳng gớm,

Xào mình chiến hậu tiếng không ô.

Dòng nòi quyết giữ danh trọn vẹn,

Cựa sắc chi nài phận quả cô.

Một trận ăn thua trời đất biết,

Để mà đền đáp chí công phu."

2. Bài thơ: Ngồi Tù

Nếu như nhiều người nhìn cảnh tù đày với sự bi phẫn, thì cụ Đỗ Văn Y lại nhìn thẳng vào quân thù bằng một thái độ trào phúng, mỉa mai sâu cay qua bài thơ Ngồi tù. Với bút pháp nghịch dị, cụ biến chốn lao tù tăm tối của thực dân thành nơi "sung sướng kinh" khi có người "phụ̣ng dưỡng" cơm nước, có kẻ "từng canh" bảo vệ khuya sớm, có "thầy thang thuốc" lúc ốm đau. Đằng sau những câu chữ có vẻ như "tận hưởng" ấy là một cái nhìn khinh bỉ tột cùng dành cho bộ máy cai trị của giặc, đồng thời thể hiện một tinh thần lạc quan cách mạng tuyệt đối xem xiềng xích của kẻ thù chỉ như một trò hề, không thể lay chuyển được ý chí tự do.

"Biết sao rằng nhục, biết sao vinh

Gẫm chốn lao tù thiệt sướng kinh.

No đói mai chiều người phụng dưỡng,

Nghỉ ngơi khuya sớm kẻ từng canh.

Ốm đau sẵn có thầy thang thuốc,

Ức h.i.ế.p lại cho phép bẩm trình.

Sung sướng có ai sung sướng nữa,

Miệng phàm chi kể tiếng cười khinh."

Chí sĩ Đỗ Văn Y là một nhân cách trí thức yêu nước mẫu mực, kết hợp hài hòa giữa tư duy học thuật phương Tây và khí phách kiên trung, trào phúng của người con đất Nam Bộ. Cuộc đời 76 năm của ông là một hành trình bền bỉ, không mệt mỏi vì nền độc lập của nước nhà — từ những năm tháng bôn ba trời Âu làm trợ thủ cho Kỳ Ngoại hầu Cường Để, cho đến những ngày hiên ngang giữ vững tư cách Đại biểu Quốc hội trong lao tù thực dân. Những vần thơ thép lấp lánh nụ cười ngạo nghễ của ông không chỉ là vũ khí chiến đấu lúc bấy giờ, mà còn là di sản văn học quý báu, truyền lại cho hậu thế bài học sâu sắc về tinh thần lạc quan và lòng yêu nước bất diệt

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn