CHÍ SĨ LÊ BÁ TRINH (1875-1934)
CHÍ SĨ LÊ BÁ TRINH (1875-1934)
Chí sĩ Lê Bá Trinh sinh năm 1875 hiệu là Hàn Hải, tự Hải Châu ,người xã Hải Châu Chánh, huyện Hòa Vang; nay thuộc quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và uy tín lớn tại địa phương.
Cha là cụ Lê Công Toản (Chánh bát phẩm văn giai) và chú là cụ Lê Công Liên (Chánh Thương biện Hải phòng Đà Nẵng), gia đình thuộc hàng danh gia vọng tộc, uy tín cao.
Khoa Canh Tý (Thành Thái thứ 12 - 1900), ông đỗ Cử nhân hạng 4/42 tại Trường thi Thừa Thiên. Năm sau, ông dự thi Hội, trong khi cả khoa chỉ chọn lấy đỗ có 13 Phó bảng thì ông xếp hạng thứ 14.
Tuy nhiên vì thời cuộc, vận nước trong cơn đảo điên, ông quyết không ra làm quan mà nuôi chí dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, tham gia vào các phong trào yêu nước của các chí sĩ đồng hương như: Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng...
Năm Nhâm Dần (1902), nhân chuyến tuần du Ngũ Hành Sơn của vua Thành Thái, ông mạnh dạn đón đường đội sớ, quỳ ngay trước xe vua để tỏ bày những tệ nạn, phần thì tham quan ô lại, nhũng nhiễu hà hiếp dân lành, phần thì sưu cao, thuế nặng làm cho nhân dân sống trong cảnh bần hàn, nô lệ... Một số học trò của ông ở Ngũ Hành Sơn kéo nhau đi xem thầy mình dám “can gián vua”, trong đó có Hương thí Mai Ngô – người kể lại chi tiết câu chuyện này.
Năm 1904, được Trần Quý Cáp đến thăm và tặng thơ khích lệ, ông rời núi xuống Đà Nẵng dạy học, cùng các đồng chí hướng chung lo việc nước
Ông trực tiếp tham gia cổ động phong trào Duy Tân ở phía bắc Quảng Nam, mở trường tân học tại Quán Khái (dưới chân Ngũ Hành Sơn), lập nông hội và hội buôn nhằm chấn hưng dân khí.
Lê Bá Trinh cùng các đồng môn, đồng khoa, đồng chí lập hội thương, hội nông; mở trường học, diễn thuyết để thực hành “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Lê Bá Trinh cùng học trò đi nhiều nơi để diễn thuyết vận động nhân dân. Ông thường ngâm nga: Lấy thương yêu đồng bào làm tôn chỉ/ Đem chí mình tô điểm cuộc duy tân
Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế trung kỳ (chống sưu thuế ở Quảng Nam), ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra nhà tù Côn Đảo 7 năm. Tại đây, ông nổi tiếng kiên cường, từng chịu hình phạt giam đứng 30 ngày vì đấu tranh đòi quyền lợi cho tù chính trị.
Sau 7 năm ở Côn Đảo, năm 1914, được thả về, Lê Bá Trinh lại liên lạc với các bạn tù Côn Đảo như Trần Cao Vân, Trương Bá Huy, Nguyễn Sụy… và có mặt trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân.
Năm 1916 Khi Thái Phiên thay thế công việc của Nguyễn Thành trong Việt Nam Quang phục hội, thì công tác kinh tài của tổ chức được trao lại cho ông. Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân thất bại, ông cùng hai người em bị bắt và đày ra Lao Bảo.
Trước khi bị bắt, giấy tờ của tổ chức ông đã thủ tiêu tất cả, nhưng con dấu của tổ chức ông gửi lại cho vị sư ở chùa Thiên Mụ. Sau này con dấu đó được trao lại cho bà Lê Thị Bằng, em gái ông và là vợ của Phan Thúc Duyện.
Những năm cuối đời, sau khi ra tù, ông tiếp tục sống thanh bạch, giữ trọn tấm lòng yêu nước thương dân cho đến khi qua đời vào ngày 29 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) tại Quảng Nam
Để ghi nhớ công lao của chí sĩ Lê Bá Trinh, tên của ông được đặt cho tuyến đường Lê Bá Trinh tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.


