Chị Sứ (1)
Ba Hòn – bức tranh của sự hài hòa giữa thiên nhiên và lịch sử, nơi mỗi ngọn núi, mỗi tấc đất đều thấm đượm dấu ấn của thời gian về một thời biết bao đau thương. Nơi đây đã cất giữ những kí ức thiêng liêng của một thời hoa lửa, nơi những con người đã sống, chiến đấu và đã hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc. trong đó có một người con gái được mệnh danh là “Bông hoa bất tử” của Sứ Hòn, người con gái kiên trung, bất khuất giữa những năm tháng chiến tranh oanh liệt – Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Phan Thị Ràng. Cuộc đời chị là một bản hùng ca thấm đẫm tình yêu đất nước, dẫu bị tra tấn dã man, chị vẫn giữ trọn ý chí, khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Để rồi, trải qua bao biến thiên của thời gian, tên tuổi “chị Sứ” vẫn mãi khắc sâu trong tâm trí của bao thế hệ Việt Nam như một biểu tượng đẹp đẽ của lòng kiên trung và tinh thần bất khuất. Chính những con người như chị đã làm nên hình hài của Tổ quốc, để lá cờ đỏ thắm hôm nay được tung bay. Tựa như lời thơ của Thanh Thảo trong áng thơ Khúc bảy vang lên như tiếng lòng của cả một thế hệ:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)
nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc.”
Chị Phan Thị Ràng sinh năm 1937, có tên cách mạng là Tư Phùng, Quê chị ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, trú quán tại xã Bình Sơn, Tỉnh An Giang ngày nay. Chị sinh ra trong một gia đình cách mạng, chị là người con thứ tư trong gia đình nên ở nhà thường được gọi là Tư Ràng. Năm 1950, chị tham gia và đội Thiếu niên cứu quốc, đến năm 1954 bắt đầu tham gia cách mạng và lấy bí danh là Tư Phùng. Năm 1959, chị được dự một lớp học dự bị Đảng viên và một lớp đào tạo cô đỡ để chuẩn bị hoạt động công khai. Năm 1960, chị được giao phụ trách thanh niên đi phá đường, đắp cản và bao vây đồn bốt phía địch từ Vàm Rầy đến Tám Ngàn. Từ tháng 1 năm 1962, chị vừa liên lạc giữa các đơn vị trong khu căn cứ, vừa tổ chức vận động nhân dân đấu tranh chính trị, phối hợp với các hoạt động quân sự buộc phái Việt Nam Cộng hòa phải bỏ dở cuộc càn quét.
Tháng 1- 1962, địch tập trung hơn 2.000 quân, mở cuộc tấn công dài ngày vào căn cứ Ba Hòn. Rạng sáng 9-1 trên đường khi đang làm nhiệm vụ, cách điểm hẹn với đồng đội khoảng 50m, đêm xuống ngày nặng nề, gió biển thổi hun hút qua từng rặn tre, bổng chị bị bọn địch vay bắt. Tiếng giày dồn dập phá tan màn đêm tĩnh lặng, tiếng người quát tháo, đó là bọn lính. Trong đó có 2 tên lính là đại úy Khen và tên Tạo, chúng nhận ra chị:
-“ Nó ở đây! Mau bắt lấy nó, đừng để nó thoát!”
Chị bị trói chặt hai tay, khuôn mặt lấm lem bùn đất nhưng ánh mắt vẫn sáng và đầy sự cứng cỏi. Chúng mặc chị dẫy giụa, chúng treo chị lên một cây me để tra tấn, bắt chị khai báo nơi ẩn nấu của đồng đội, cơ sở lãnh đạo, người chị quen biết:
-“ Khai ra mau, đồng đội mày đang ở đâu?”
Chị dùng chút sức lực ngẩng đầu lên, một nụ cười khinh bỉ hiện lên trên mặt chị, giọng bình tĩnh:
-“ Tao không biết”
Bọn lính tức giận nắm lấy mái tóc dày và bóng mượt của chị quát lớn:
-“ mày còn cứng đầu à? Bây giờ mày có khai không, nếu không tao cho mày chết ngay tại đây!”
Chị Tư Phùng hét thẳng vào mặt chúng:
-“ Tao thà chết cũng không khai! Tới chết thì tụi bây cũng đừng hòng moi được nửa lời về đồng đội tao! Để tao nhắc cho bọn bây nhớ, không có bom đạn nào giết được người Việt Nam đâu!”
Chúng cứ thế mà dùng báng súng đánh chị, chị ngất thì chúng cứ tạt nước cho tỉnh rồi đánh tiếp. Thấy chị vẫn không khai, bọn thằng Khen đưa chị vào chân núi Hòn Đất, treo chị lên cây xoài bằng chính mái tóc dày của chị, lấy cọc nhọn đâm khắp người, cắt tai, xẻo thịt… Những cực hình man rợ ấy vẫn không giết được tinh thần bất khuất của chị, chị chẳng hề khai báo cũng chẳng van xin cho đến khi không trụ được nữa, chị hét thẳng vào mặt bọn địch:
-“ Tao chết thì tụi bây cũng chết!”
Trước lúc bị giặc hành quyết, chị hướng về hang Hòn và hô to: “ Các đồng chí có khỏe không, đừng uống nước suối, chúng nó bỏ thuốc độc. Đả đảo lũ bán nước, làm tay sai cho giặc”
Rồi chị trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2 giờ chiều ngày 9-1-1962, lúc đó chị chỉ mới vừa bước sang tuổi 25. Khi ấy chị và người chồng mới đính hôn còn chưa được một lần nắm tay nhau, cho đến bây giờ những người đồng đội và người dân Thổ sơn vẫn không thể nào cầm được nước mắt khi nhắc đến khoảnh khắc chị hi sinh ấy. Ghi tạc sự hy sinh anh dũng của chị, ngày 20/12/1994 Đảng, Nhà nước truy tặng chị Phan Thị Ràng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hình ảnh của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Phan Thị Ràng hiên ngang trước sự tra tấn tàn bạo của bọn giặc đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, tinh thần bất khuất và ý chí kiên cường không chịu khuất phục trước kẻ địch hung hăng của chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Chị Sứ chính là hình tượng nguyên mẫu trong tác phẩm Hòn Đất của nhà văn Anh Đức. Qua hình ảnh của chị ta có thể thấy được ý chí của các anh hùng, liệt sĩ, chiến sĩ cách mạng ta ngày xưa: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Dẫu thân xác có thể ngã xuống giữa khói lửa chiến tranh, song tinh thần bất khuất của chị vẫn sáng rực như ngọn lửa thiêng soi đường cho bao thế hệ mai sau. Sự hi sinh ấy đã viết nên bản anh hùng ca tuyệt đẹp về một thời hoa lửa. Sự hi sinh của chị đã trở thành biếu tượng đẹp đẽ sống mãi trong trái tim của mỗi người con Việt Nam, góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc và nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, biết sống có trách nhiệm với quê hương đất nước và luôn biết ơn sự hi sinh cao cả của ông cha ta ngày trước. Như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Đứng trước mộ chị Sứ tại khu Di tích lịch sử - Thắng cảnh Quốc gia Ba Hòn, tôi xin cuối đầu và dâng một nén hương để tưởng niệm chị, ngắm ảnh người mà nhớ đến những dòng chữ trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức: “Kìa, chị đang khẽ mỉm cười và lặng lẽ. Kìa, khuôn mặt trái xoan thon thả của chị đang mở to đôi mắt đẹp đẽ chân thật. Kia là mái tóc óng mượt mà cả Hòn Đất ai cũng lấy làm hãnh diện”.



