Bài viết

Chị Út Tịch – Huyền Thoại "Còn Cái Lai Quần Cũng Đánh"

Phần 1: Từ cô bé "ở đợ" đến người chiến sĩ tự do: Kể lược về tuổi thơ gian khổ đi ở đợ cho địa chủ của cô bé Út, chịu bao đòn roi nhưng luôn phản kháng kiên cường. Cơ duyên gặp gỡ anh Lâm Văn Tịch và bước ngoặt cả hai vợ chồng cùng tham gia du kích, quyết tâm đánh đuổi thực dân, phong kiến để giành lại tự do. Phần 2: Người mẹ trên văn phòng chiến hào: Khắc họa cuộc sống độc nhất vô nhị của chị Út Tịch: Vừa nuôi con, vừa đánh giặc. Tái hiện những phân cảnh vừa dốc lòng chăm con, vừa chỉ huy đội du kích đánh đồn, bắt sống giặc. Nêu bật tình mẫu tử hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước. Phần 3: "Còn cái lai quần cũng đánh" – Lời thề giữ đất: Đẩy cao trào câu chuyện vào một trận càn quét quy mô lớn của địch. Trước sự lo lắng của đồng đội khi thấy chị vừa sinh con, gia cảnh lại quá đơn chiếc, chị Út Tịch đã thẳng thắn đưa ra tuyên bố bất hủ: "Bác Hồ nói còn non còn nước còn người. Tụi nó muốn cướp đất ni thì tui đánh, đánh tới cùng, còn cái lai quần cũng đánh!". Tái hiện trận đánh du kích xuất sắc do chị chỉ huy đẩy lui trận càn. Phần 4: Ngọn lửa thiêng của miền sông nước: Kết truyện bằng sự hy sinh anh dũng của chị trong một trận oanh tạc bằng máy bay B-52 vào năm 1968. Khép lại bằng di sản tinh thần bất tử của chị, câu nói của chị trở thành điểm tựa ý chí cho cả miền Nam thành đồng và thế hệ trẻ mai sau.

Đắk Lắk20/08/2026Xã Đức Châu (Đoàn xã Đức Châu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG VÀ HUYỀN THOẠI RẶNG DỪA NƯỚC

Phần 1: Từ cô bé "ở đợ" đến người chiến sĩ tự do

Vùng đất Tam Ngãi, Cầu Kè (Trà Vinh) mùa nước nổi hiện lên như một bức tranh nhuộm thắm phù sa. Những rặng dừa nước đan cài vào nhau xập xình theo con nước lớn ròng, che chở cho những xóm nghèo lúp xúp dưới rặng bần. Nơi bờ rạch quanh co ấy, có một người con gái mang làn da bánh mật rắn rỏi, đôi mắt sáng quắc như dao cau và tính khí hào sảng, bộc trực đặc sệt chất Nam Bộ. Người ta gọi chị bằng cái tên cúng cơm giản dị: Út Tịch.

Hồi còn nhỏ xíu, Út đã phải đi “ở đợ” cho nhà địa chủ Hàm Giỏi. Cái kiếp nghèo hèn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, lại thêm những đòn roi vô tội vạ của tụi chủ điền ác ôn đã tôi luyện nên một con Út có cái gan to bằng trời. Người ta đi ở đợ thì cúi đầu cam chịu, còn Út thì khác. Tụi chủ đánh, Út không khóc, cứ trừng trừng mắt nhìn lại. Có lần bị mụ vợ Hàm Giỏi quất lươn vào lưng, Út giật phắt cây roi, ném thẳng xuống sình rồi thét lên:

“Đánh tui chết tui cũng không chịu nhục! Tui là con người chứ không phải con trâu con bò nghe chưa!”

Sự phản kháng kiên cường của một đứa trẻ không chịu khuất phục trước cường quyền đã báo hiệu một số phận không tầm thường.

Năm tháng trôi qua, cô bé ở đợ ngày nào trở thành một thiếu nữ mạnh mẽ, khỏe khoắn. Út gặp anh Lâm Văn Tịch – một thanh niên người Việt gốc Khmer nghèo rớt mồng tơi nhưng bụng dạ thẳng băng, cũng ôm mối thù sâu sắc với bọn cướp nước và tay sai. Hai tâm hồn bần nông gặp nhau, thương nhau rồi nên nghĩa vợ chồng. Không có xe hoa, không có tráp lễ mâm cao cỗ đầy, đám cưới của họ diễn ra giữa căn chòi lá rách nát, nhưng sưởi ấm bằng lời thề sẽ cùng nhau đứng lên đi theo cách mạng để đổi đời.

Khi ngọn cờ của Đảng phất lên giữa đồng bằng sông Cửu Long, vợ chồng Út Tịch như cá gặp nước. Họ lập tức gia nhập đội du kích địa phương. Út Tịch hiểu rằng, muốn cho con cái mình sau này không phải đi ở đợ, không phải chịu nhục nhã như mạ cha chúng, thì chỉ có một con đường duy nhất: cầm súng đứng lên, quét sạch tụi thực dân phong kiến ra khỏi mảnh đất này.

Phần 2: Người mẹ trên "văn phòng" chiến hào

Nếu có một giải thưởng dành cho vị chỉ huy du kích độc nhất vô nhị trên thế giới, giải thưởng đó nhất định phải thuộc về chị Út Tịch. Bởi lẽ, “văn phòng làm việc” của chị không có bàn giấy, không có máy móc, mà là những chiến hào sũng nước bùn bên rặng dừa nạo, và xung quanh chị là một bầy con thơ ríu rít.

Chị Út Tịch sanh đẻ nhiều, bầy con của chị cứ sàn sàn tuổi nhau như những củ khoai trên rẫy. Người ta làm lính, làm tướng thì rảnh rang tay chân, còn chị Út đi đánh giặc mà nách mang con đùm con đề. Ấy vậy mà chưa bao giờ chị nản chí hay lui bước.

Có những buổi trưa nắng cháy da người, người ta thấy chị Út thắt chiếc khăn rằn ngang trán, một tay ẵm đứa con nhỏ còn đỏ hỏn đang bú mớm, tay kia vẫn lau chùi khẩu súng trường Mỹ láng bóng. Tụi con lớn của chị đứa thì nấu cơm, đứa thì ngồi canh chừng động tĩnh ngoài bờ rạch.

“Út ơi, tụi lính đồn tổng sắp đi tuần qua ngả sông ni kìa!” – Tiếng anh em du kích vọng vào.

Chị Út nghe vậy liền đặt đứa nhỏ vào cái võng dừa nước, quay sang dặn đứa con lớn: “Thanh! Coi em nghen con. Mạ đi đập tụi nó một trận rồi mạ dìa liền, không được cho mấy em ra khỏi hầm nghe chưa!”

Dặn xong, chị quớ lấy khẩu súng, băng qua bãi bùn, nhảy tót xuống chiếc xuồng ba lá rồi lướt đi như một con rái cá. Đối với tụi giặc ở quận Cầu Kè, cái tên Út Tịch là một nỗi ác mộng kinh hoàng. Chị đánh giặc không theo bài bản nào của trường lớp, mà bằng cái mưu mẹo, cái sự xuất quỷ nhập thần của người dân sông nước. Chị giả làm người đi hái dừa, đi giặt áo bên sông để tiếp cận rồi thình lình rút súng bắn tỉa, bắt sống giặc, thu vũ khí. Nhiều trận càn quy mô của địch bị bẻ gãy cũng nhờ những trận địa chông mìn, những ổ phục kích bằng súng ngựa trời do chính người mẹ đông con này bày binh bố trận.

Trận đánh kết thúc, khói súng còn chưa kịp tan trên những ngọn dừa, chị Út đã có mặt ở nhà. Chị mình mẩy đầy bùn đất, áo bà ba khét lẹt mùi thuốc súng, nhưng vừa bước vào cửa là chị đã sà vào võng ôm lấy đứa con đang khóc ngặt nghẽo vì khát sữa. Chị quệt vội những giọt mồ hôi trên trán, cười hộc hà hộc hạc, giọng ngọt sớt:

“Thôi nín đi cưng, mạ dìa rồi nè. Nay mạ dắt dìa mấy chú tù binh cho mấy đứa coi chơi nghen. Tụi nó nhát hít hà, thấy mạ bắn có mấy phát là quỳ lạy ráo trọi!”

Tiếng cười lạc quan, yêu đời của chị vang lên giữa gian chòi lá, xua tan đi cái ngột ngạt, căng thẳng của chiến tranh. Ở người phụ nữ ấy, tình mẫu tử thiêng liêng không hề bị mài mòn bởi sự khốc liệt của đạn bom, ngược lại, nó chính là chất xúc tác mạnh mẽ nhất, biến dòng sữa mẹ ngọt ngào thành dòng máu anh hùng chảy bỏng cháy trong huyết quản.

Phần 3: "Còn cái lai quần cũng đánh" – Lời thề giữ đất

Mùa khô năm 1965, chiến trường miền Nam chuyển hướng ác liệt khi đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào, thực hiện chiến lược “Tìm và diệt”. Vùng Tam Ngãi, Trà Vinh trở thành trọng điểm bình định của địch. Chúng điều động cả một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, có máy bay trực thăng yểm trợ, mở trận càn quét quy mô lớn hòng san phẳng vùng căn cứ du kích của ta.

Lúc bấy giờ, chị Út Tịch vừa mới sanh đứa con thứ tám được ít ngày. Sức khỏe chị chưa hồi phục hoàn toàn, người còn yếu xìu, bầy con nhỏ thì nheo nhóc. Trước tình hình dầu sôi lửa bỏng, ban chỉ huy xã đội họp khẩn cấp để bàn phương án tác chiến và di tản dân.

Thấy hoàn cảnh chị Út quá đơn chiếc lại đang kỳ sinh nở, đồng chí bí thư chi bộ ái ngại nhìn chị rồi nói bằng giọng trầm buồn:

“Chị Út ơi, kỳ này tụi nó đi đông dữ thần lắm, súng lớn súng nhỏ dập rát rạt. Chị mới sanh xong, cơ thể còn yếu, bầy con thì đông quá. Hay là chị dắt mấy đứa nhỏ lánh nạn qua vùng bên kia đi, để anh em tụi tui bám trụ giữ đất cho.”

Nghe tới đó, chị Út Tịch đứng phắt dậy. Chị quấn chặt lại chiếc khăn rằn, đôi mắt long lên sòng sọc, hai tay chống nạnh, quạt một tràng bằng cái giọng Nam Bộ đanh thép, oang oang khắp căn hầm:

“Lánh cái con khỉ khô! Lánh đi đâu mà lánh? Đất của mình, nhà của mình, tụi nó tới cướp thì mình phải đập ráo trọi chứ! Bác Hồ nói rồi: còn non, còn nước, còn người. Tui tuy mới sanh nhưng tay tui còn bóp cò được, chân tui còn đi được. Tụi nó muốn cướp cái đất ni thì tui đánh, đánh tới cùng, còn cái lai quần cũng đánh!”

Lời tuyên bố đanh thép, mộc mạc mà chứa đựng một ý chí sắt đá như một luồng điện mạnh mẽ truyền qua tất cả anh em chiến sĩ có mặt trong hầm. Không ai còn bàn chuyện rút lui nữa. Lời thề “còn cái lai quần cũng đánh” của người mẹ tám con đã trở thành mệnh lệnh trái tim, thành lời thề quyết tử của cả vùng du kích Tam Ngãi.

Chị Út gởi bầy con cho mấy bà mẹ chiến sĩ ở hậu phương đùm bọc, rồi lập tức khoác súng ra chiến hào. Trận càn quét của địch ập đến như bão táp. Tiếng đại bác từ các đồn bốt xung quanh nã dồn dập, cày nát những rặng dừa nước, khói bom đen kịt phủ trùm lên các ngả rạch. Máy bay trực thăng của Mỹ rà sát ngọn cây, xả súng đại liên xối xả.

Nhưng dưới sự chỉ huy mưu trí của chị Út Tịch, đội du kích Tam Ngãi đã dựa vào hệ thống địa đạo, bờ mương chằng chịt để đánh trả kiên cường. Chị Út mình mẩy lấm lem bùn sình, lướt đi thoăn thoắt dọc theo các chiến hào. Chị chờ cho toán lính địch tiến lại thật gần, lọt thỏm vào trận địa phục kích mới phát lệnh nổ súng.

"Đoàng! Đoàng! Đoàng!" – Khẩu súng trường trong tay chị Út nhả đạn liên tục, phát nào trúng phát nấy, hạ gục tên đi đầu. Sự gan dạ và quyết liệt của người chỉ huy áo bà ba đen đã cổ vũ tinh thần anh em du kích chiến đấu ngoan cường. Suốt một ngày đêm ròng rã, đội du kích nhỏ bé của chị Út đã đẩy lùi hàng chục đợt tiến công của một tiểu đoàn địch, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên giặc, buộc chúng phải tháo chạy nhục nhã khỏi vùng đất Tam Ngãi. Trận càn bị bẻ gãy hoàn toàn dưới gót chân trần của người mẹ anh hùng.

Phần 4: Ngọn lửa thiêng của miền sông nước

Chiến công nối tiếp chiến công, hình ảnh người mẹ miền Nam tay bế con, tay cầm súng đã trở thành biểu tượng sống động cho cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ của dân tộc. Năm 1965, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ hai, chị Nguyễn Thị Út vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng. Câu nói bất hủ của chị: “Còn cái lai quần cũng đánh” được truyền đi khắp các mặt trận, trở thành khẩu hiệu hành động, thành điểm tựa ý chí cho cả miền Nam thành đồng chống Mỹ.

Thế nhưng, cuộc chiến tranh tàn khốc đã không chừa một ai. Năm 1968, vùng căn cứ Cầu Kè bị đánh phá ác liệt bằng máy bay chiến lược B-52 của Mỹ. Trong một trận oanh tạc thảm khốc vào ngày 27 tháng 11 năm 1968, người mẹ anh hùng Út Tịch đã hy sinh khi đang cùng đồng đội bám trụ bảo vệ vùng căn cứ. Chị ngã xuống giữa mùa dừa nước trổ bông, khi tuổi đời mới vừa tròn 36, để lại bầy con thơ dại và một khoảng trống không gì bù đắp nổi trong lòng đồng bào, đồng chí.

Chị Út Tịch đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng ngọn lửa từ lời thề giữ đất của chị thì không bao giờ tắt. Sau ngày chị hy sinh, bầy con của chị được tổ chức và nhân dân đùm bọc, nuôi nấng nên người, tiếp tục nối gót mạ cha đi theo con đường cách mạng. Câu nói “Còn cái lai quần cũng đánh” đã vượt qua phạm vi của một vùng sông nước Nam Bộ, trở thành di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, minh chứng cho một chân lý ngàn đời: Khi một dân tộc, ngay cả những người mẹ hiền thục nhất, đã quyết tâm đứng lên bảo vệ tự do, thì không một thế lực bạo tàn nào có thể khuất phục được.

Hôm nay, đi trên những con đường nhựa khang trang, rợp bóng dừa xanh của vùng quê Tam Ngãi, Cầu Kè, người ta không còn nghe tiếng bom gầm đạn nổ. Cuộc sống thanh bình, trù phú đã hồi sinh từ những hố bom năm xưa. Nhưng câu chuyện về chị Út Tịch – người mẹ cầm súng với tinh thần hào sảng, lạc quan và ý chí sắt đá – sẽ mãi mãi được lưu truyền như một khúc tráng ca bất tử của miền sông nước, thắp sáng niềm tự hào cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn