Chị Võ Thị Thắng – “Nụ cười chiến thắng”
Chị Võ Thị Thắng (1945 – 2014) là người con ưu tú của vùng đất Long An trung dũng, một biểu tượng bất tử cho khí phách hiên ngang của thế hệ thanh niên Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Chị Võ Thị Thắng – “Nụ cười chiến thắng”
Chị Võ Thị Thắng (1945 – 2014) là người con ưu tú của vùng đất Long An trung dũng, một biểu tượng bất tử cho khí phách hiên ngang của thế hệ thanh niên Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Chị được biết đến qua bức ảnh lịch sử "Nụ cười chiến thắng" – nụ cười rạng rỡ đầy bản lĩnh thách thức bản án 20 năm tù khổ sai của kẻ thù vào năm 1968. Không chỉ là một chiến sĩ kiên trung đi qua sáu năm "địa ngục trần gian" tại Côn Đảo, Chí Hòa, trong thời bình, chị còn là một nhà lãnh đạo xuất sắc trên cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, người có công lớn đặt nền móng đưa ngành du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Cuộc đời chị là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa ý chí sắt đá của một nữ anh hùng và tâm hồn dịu dàng, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
Năm 1968, tại phiên tòa quân sự đặc biệt của chính quyền Sài Gòn, một cô gái trẻ mảnh mai bị tuyên án 20 năm tù khổ sai. Thay vì run sợ, cô nở một nụ cười rạng rỡ, đối diện trực diện với ống kính phóng viên. Với câu nói đanh thép: "Liệu chính quyền các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?" đã trở thành một cái tát chí mạng vào chế độ thực dân.
Cảm kích trước khí tiết ấy, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy, Trưởng Ðoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam đã viết nên bốn câu thơ rất xúc động:
“Kể chi hai chục năm tù
Ngày xuân phơi phới hẹn hò núi sông
Mặt em như tỏa ánh hồng
Miệng em như tận đáy lòng nở hoa”
Nụ cười ấy không chỉ là khoảnh khắc xuất thần, mà là kết quả của một quá trình tôi luyện từ phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn – Gia Định, nơi những tên tuổi như Trần Văn Ơn, Lê Quang Vịnh, Võ Thị Thắng... đã dùng tuổi thanh xuân để viết nên những trang sử vàng cho đất nước.
Trước khi được trao trả tự do tại sân bay Lộc Ninh vào tháng 3/1974, chị Võ Thị Thắng đã trải qua 6 năm ròng rã bị đày đọa tại những nơi "địa ngục trần gian" khét tiếng nhất như Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp và Côn Đảo. Chúng dùng xiềng xích và đòn roi để khuất phục ý chí, nhưng đều thất bại. Với chị, nhà tù chính là một "trường học lớn", nơi chị rèn luyện lòng trung kiên, bản lĩnh chính trị và giữ vững niềm tin sắt đá vào ngày thống nhất.
Sau ngày hòa bình lập lại, thống nhất đất nước (30 – 4 – 1975), chị công tác ở Thành Ðoàn rồi về Hội Liên hiệp phụ nữ TP Hồ Chí Minh. Tiếp đó, chị được giao trọng trách Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, được trúng cử làm Ủy viên T.Ư Ðảng các khóa VIII, IX, đại biểu Quốc hội ba khóa liền: IX, X, XI, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Cu-ba.
Trong thời gian chị được giao trách nhiệm đứng đầu ngành du lịch - một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, nhạy cảm. Chị vừa phải điều hành, lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động ngành kiện toàn công tác cán bộ, vừa phải hoàn thành xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chiến lược ngành, xây dựng quy định, quy chế, góp phần quan trọng giúp Quốc hội thông qua Luật Du lịch... Hơn 10 năm, chị đã cùng tập thể cán bộ, nhân viên toàn ngành giữ vững sự phát triển ổn định và đưa ngành du lịch Việt Nam từng bước sánh vai cùng các nước trong khu vực và quốc tế, xứng đáng là ngành "kinh tế mũi nhọn" của đất nước. Hơn nữa, chị còn làm tốt công tác ngoại giao nhân dân mà chị được phân công. Và từ khi nghỉ hưu, trở về với cuộc sống đời thường, chị đã tham gia nhiều hoạt động xã hội và từ thiện của thành phố.
Điều khiến người ta nể phục nhất ở người phụ nữ này chính là sự hài hòa giữa trách nhiệm quốc gia và bổn phận gia đình. Giữa bộn bề công việc lãnh đạo, chị vẫn hoàn thành xuất sắc vai trò làm vợ, làm mẹ, chăm lo vẹn toàn cho gia tộc nội ngoại. Chị đã không ngừng học tập để bù lại những năm tháng tù đày. Chị đã tốt nghiệp Ðại học Luật Hà Nội, Ðại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (khoa Sử) và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Với những cống hiến của mình, chị đã được Ðảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Cả cuộc đời chị là minh chứng sống cho lời dặn của Cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII: "Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời - sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mang lại hạnh phúc cho Nhân dân".
Dù chị đã ra đi, nhưng nụ cười của chị vẫn còn đó – rực rỡ và bất tử. Mỗi khi nhìn lại bức ảnh "Nụ cười chiến thắng", thế hệ hôm nay không chỉ thấy một nữ anh hùng, mà còn thấy một tấm gương về nghị lực, về sự cống hiến cho đến hơi thở cuối cùng.


