CHIA CƠM NƯỚNG
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm chia cơm nướng – khi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc nướng từng nắm cơm khô, từng củ sắn rừng trên lửa nhỏ trong hầm trú ẩn để chia đều cho đồng đội giữa thiếu thốn lương thực và bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống hậu phương giản dị, tinh thần chia sẻ và tình đồng chí đồng bào sâu sắc của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, với giọng văn chân thực, xúc độn
Tôi vẫn hay trở về Bản Ló mỗi khi trời se lạnh, cầm nắm cơm nguội mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm chia cơm nướng trong hầm trú ẩn, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng từng hạt cơm khô để giữ lấy sự sống và tình đồng chí giữa lòng Tây Bắc bom rơi. Sinh năm 1950, ở vùng đất Bản Ló - Lay Nưa ngày ấy, tôi lớn lên giữa những nương rẫy và bếp lửa hồng, nghe tiếng mẹ nhai cơm nguội và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá hậu phương ngày càng ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong ngay tại quê nhà. Lúc đó tôi 17 tuổi, tay còn quen vo nắm cơm nhưng lòng đã sẵn sàng chia sẻ từng hạt với đồng đội.
Lương thực thiếu thốn triền miên, gạo cứu đói chỉ đến lẻ tẻ, chúng tôi thường nướng cơm khô, nướng củ sắn rừng trên lửa nhỏ trong hầm để giữ ấm và dễ chia. Đêm khuya, khi bom đã ngớt, chúng tôi quây quần quanh đống lửa tí tách, nướng từng nắm cơm khô bằng que tre, từng củ sắn đen thui, rồi chia đều cho từng người. Mỗi người chỉ được một nắm nhỏ, nhưng chúng tôi vẫn cười, vẫn kể chuyện vui để át đi cái đói cồn cào. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1968, sau trận bom gần đồi Ló, cả đội kiệt sức, lương thực cạn, chỉ còn vài nắm cơm khô và hai củ sắn. Chúng tôi nướng trên lửa nhỏ, chia thành từng phần bằng que tre, ai cũng nhường phần to hơn cho người bị thương. Một anh đồng đội sốt cao, tay run run nhận nắm cơm, thì thầm: “Cảm ơn… em ăn được là nhờ các anh chị”. Nước mắt rơi xuống nắm cơm, nhưng lửa vẫn cháy, hơi ấm vẫn lan tỏa trong hầm lạnh.
Gió núi lạnh buốt, khói bếp cay xè mắt, nhiều anh em run người vì đói và sốt rét, chất độc da cam khiến cơm nướng cũng đắng nghét, nhưng chúng tôi vẫn chia, vẫn nhường. Chúng tôi động viên nhau: “Cơm còn chia, đồng đội còn sống, miền Nam còn no ấm”. Những nắm cơm nướng ấy không chỉ nuôi thân xác, mà còn nuôi ý chí, nuôi tình đồng chí để chúng tôi tiếp tục đào hầm, lấp hố bom, vận chuyển hàng cho tiền tuyến.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Ló, thấy nương vẫn xanh, bếp lửa vẫn hồng, nhưng biết bao đồng đội đã ra đi mà không kịp ăn hết nắm cơm cuối cùng. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên bếp lửa nhỏ nghe tiếng củi nổ lách tách, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm chia cơm ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng từng hạt cơm nướng để giữ sự sống, để giữ tình đồng chí giữa bom đạn. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng trong đêm chia cơm nướng – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để bữa cơm quê hương mãi ấm, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



