Chiếc áo của má Trương
Chiếc áo của má Trương“Chiếc áo ám ảnh tôi suốt 10 năm. Tôi hứa với lòng mình phải “giải mã” bằng được lai lịch chiếc áo để biết má đã hy sinh như thế nào và 45 năm qua, những anh bộ đội được má cứu ngày ấy ai còn, ai mất; các con của má liệu có biết chuyện kỷ vật gia đình họ được lưu giữ trang trọng đến thế!”
“Giải mã” hiện vật Đến thăm Nhà truyền thống Sư đoàn 2 (Quân khu 5), tôi lặng đi trước tấm áo bà ba tím nâu đã sờn cũ, rách nhiều chỗ của má Nguyễn Thị Trương, người đã dũng cảm hy sinh để bảo vệ 3 chiến sĩ Sư đoàn thoát khỏi trận càn. Trong chiến tranh, các trận đánh diễn ra dồn dập, chiếc áo theo bộ đội hành quân trên từng cây số và được bàn giao qua nhiều người, gấp gáp nên lời chú thích sai “má Trương ở chợ Cẩm Khê” đã làm cho không ít cán bộ bị mất phương hướng, vì thế khi được hỏi, hầu như không ai biết về má. Chiếc áo ám ảnh tôi suốt 10 năm. Tôi hứa với lòng mình phải “giải mã” bằng được lai lịch chiếc áo để biết má đã hy sinh như thế nào và 45 năm qua, những anh bộ đội được má cứu ngày ấy ai còn, ai mất; các con của má liệu có biết chuyện kỷ vật gia đình họ được lưu giữ trang trọng đến thế. Thế rồi tôi đã gặp may trong hành trình tìm kiếm giữa không khí cả Sư đoàn 2 đang náo nức chuẩn bị kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống đơn vị 2 lần AHLLVTND (20/10/1945- 20/10/2010).
Chiếc áo má Trương trung bày tại Nhà truyền thống Sư đoàn 2 (Quân khu 5). Đó là lần tôi hỏi câu quen thuộc “Anh có biết má Trương ở chợ Cẩm Khê” (thôn Cẩm Khê nay thuộc huyện Phú Ninh, Quảng Nam), cựu chiến binh Nguyễn Văn Nho trả lời rằng, anh chỉ biết có má Trương ở Quế Sơn khi một lần vào cuối năm 1966 trong đội hình Sư đoàn H đi ngang qua làng Thạch Thượng đã nghe mọi người kể sự hy sinh anh dũng của má. Vậy là đã rõ. Một gia đình cách mạng Thạch Thượng, Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam, làng quê trung du, xanh bời bời cây lá. Nhà má Trương đặc biệt nhất ở đây bởi dáng cổ kính với 16 cây cột to bằng gỗ lim đen bóng. Ngày xưa nhà như thế này là khá giả lắm. Trên bàn thờ, người phụ nữ tầm tuổi 50, gương mặt thật phúc hậu, bình thản nhìn cuộc đời đi qua vội vã. Tấm bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Kháng chiến hạng Ba viết tên ‘’Lưu Thị Nho”, tên thật của má. Còn “Trương” là tên người con trai đầu. Người miền Trung hay gọi theo con như thế. Kể về má của mình, chị Huỳnh Thị Mạnh nghẹn ngào: “Năm 1966, quê tôi là vùng mới giải phóng. Bộ đội hành quân về đây thường xuyên. Nhà tôi rộng rãi, vườn rậm rạp, lại có rất nhiều hầm nên các chú ở nhiều nhất, thường là Ban chỉ huy của đơn vị. Tôi biết vậy vì thấy có rất nhiều cán bộ có súng ngắn. Lúc ấy mới 14 tuổi nhưng tôi đã biết cùng các chị phụ giúp má cơm nước cho các chú (5 chị em tôi sau này đều đi thoát ly, du kích, có người là biệt động thành). Trước đó, cha tôi là ông Huỳnh Khai đã hy sinh khi địch phát hiện là cơ sở cách mạng. Chúng bắt lên đồn đánh đến tàn tạ, thả về không bao lâu thì qua đời. Mặc cho địch dòm ngó, má tôi vừa làm lụng ngoài đồng nuôi đàn con nhỏ và cha chồng mù hai mắt, vừa làm cán bộ phụ nữ thôn, sớm tối đi về.
Má Trương (áo đen) và các con. Lần đó. Có một đơn vị thông tin về đóng quân ở nhà tôi để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Mới đến chưa lâu thì hình như địch đánh hơi được, chúng nã ca nông dồn dập vào làng. Má bảo chúng tôi phân tán ra bên ngoài, đừng tập trung một chỗ, còn má phải ở nhà để bảo vệ bộ đội. Sau loạt pháo cấp tập, máy bay vần vũ ném bom. Làng quê yên bình bỗng chốc bị xé nát. Rồi máy bay trực thăng của địch đổ quân xuống một bãi cỏ. Những tên lính hung hăng tỏa đi các nhà. Ở bìa rừng, trưa hôm đó, tôi nghe tiếng lựu đạn nổ vang lên phía nhà mình mà ruột gan như lửa đốt. Chạng vạng, ngớt tiếng súng, tôi chạy ù về nhà, tìm ra căn hầm dưới gốc mít. Trời ơi, má tôi chết ngay miệng hầm, tư thế nằm sấp, người bê bết máu. Từ hai ngách hầm, ông nội tôi, chú Diên cán bộ huyện tăng cường và ba anh bộ đội cũng chạy lên ôm lấy má. Ông nội tôi bảo: “Con có thương má cũng để trong lòng chứ khóc to địch nó nghe thì sao”. Một chú bộ đội cõng tổng đài cồng kềnh nói nhanh với tôi: “Má đã hy sinh để bảo vệ các chú, cháu ơi!”. Khi biết các chú đang rất vội bởi nắm hệ thống thông tin của đơn vị, tôi đã đưa họ ra khỏi vườn, đi theo mương nước rồi luồn qua đám mía, thoát khỏi hiểm nguy. Địch đang phong toả khắp nơi, không thể nào đưa má lên được, mọi người quyết định lấp luôn căn hầm. Ba tháng sau, mới đào lên, cải táng má, chôn cất trong vườn. Từ khi má hy sinh, các chú bộ đội thỉnh thoảng vẫn về đây, thắp hương cho má, có để lại số liên lạc”. Má Trương, bà má anh hùng Anh Nguyễn Văn Phúc, chiến sĩ thông tin, người mang tổng đài 15 W được má cứu ngày nào hiện đã phục viên ở tại xã Đắc Sở, Hoài Đức, Hà Nội kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về má Trương: Trung đoàn 31 chúng tôi nguyên là Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, bổ sung vào Sư đoàn H Quân khu 5 đầu năm 1966. Vào khoảng giữa năm, đơn vị vượt sông Thu Bồn về đứng chân ở Quế Sơn. Đại đội thông tin của chúng tôi đóng ngay trong làng Thạch Thượng, được gia đình má Trương che chở. Tôi vẫn nhớ như in bà má có dáng dấp to cao, hiền hậu, giọng Quảng nghe thật ấm áp. Hôm đó là sáng ngày 20-6-1966, địch phát hiện nơi đơn vị đóng quân nên huy động lực lượng lớn bao vây. Cả đơn vị triển khai chiến đấu. Tôi và 2 đồng chí báo vụ mang điện đài công kềnh được má Trương kéo chạy ra căn hầm to nhất, đẩy vào 2 ngách sâu của hầm, má còn đi thu bằng hết dây nhợ đưa vào trong hầm. Má nói: “Các con giữ nguồn thông tin của đơn vị, có mệnh hệ gì thì biết làm sao. Cứ nằm im trong hầm. Má tính”. Trong hầm đã có bố chồng của má Trương và một anh cán bộ huyện, sau này tôi được biết tên là Nguyễn Diên về xã tăng cường”. Chẳng mấy chốc chúng tôi nghe tiếng địch chạy ầm ào trên mặt đất, rất gần. Chúng đã phát hiện ra căn hầm và gọi hàng. Má Trương bình tĩnh ngồi ở miệng hầm nói vọng lên: “Hầm này chỉ người già cả thôi”. Chúng bảo má lên ngay, nếu không sẽ bắn chết. Má bảo:”Các ông làm gì thì làm, chứ tôi nhất quyết không lên”. Chúng bắn một loạt súng vào nóc hầm hăm dọa. Chúng tôi nói với má hãy đưa ông nội ra đi, còn chúng tôi sẽ chiến đấu với địch. Nhưng má vẫn gan góc không rời hầm một bước. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, má đè lên quả lựu đạn, hy sinh tại chỗ. Mảnh đạn văng vào ngách làm một đồng đội của tôi bị thương nhẹ. Bọn địch nghĩ đã “xoá sổ” Việt Cộng nên bỏ đi. Vậy là má đã nhận cái chết về phía mình để cứu chúng tôi, cứu hệ thống liên lạc của cả trung đoàn. Tấm lòng của má, của lòng dân Quảng Nam cao quý biết bao. Tiếc là chúng tôi chỉ kịp an ủi cháu Mạnh rồi đi làm nhiệm vụ, không kịp chôn cất má. Các đồng chí ở trong hầm ngày ấy, tôi cũng không gặp lại, được biết rằng có người đã hy sinh, cả chú Nguyễn Diên, cán bộ huyện… Đại đội trưởng Đại đội thông tin của của chúng tôi là anh Hoàng Trí Dũng mấy tháng sau trở lại Thạch Thượng đã sáng tác vở kịch “Tình quân dân’’ kể về hành động anh hùng của má Trương. Mỗi lần diễn, nhân dân trong làng và bộ đội đều xúc động không cầm được nước mắt. Chiếc áo bà ba của má rách tươm bởi đạn bom được lưu giữ đến hôm nay có lẽ đã được các anh xin lại gia đình trong thời gian đó”./.
Chiếc áo má Trương trung bày tại Nhà truyền thống Sư đoàn 2 (Quân khu 5). Đó là lần tôi hỏi câu quen thuộc “Anh có biết má Trương ở chợ Cẩm Khê” (thôn Cẩm Khê nay thuộc huyện Phú Ninh, Quảng Nam), cựu chiến binh Nguyễn Văn Nho trả lời rằng, anh chỉ biết có má Trương ở Quế Sơn khi một lần vào cuối năm 1966 trong đội hình Sư đoàn H đi ngang qua làng Thạch Thượng đã nghe mọi người kể sự hy sinh anh dũng của má. Vậy là đã rõ. Một gia đình cách mạng Thạch Thượng, Quế Phong, Quế Sơn, Quảng Nam, làng quê trung du, xanh bời bời cây lá. Nhà má Trương đặc biệt nhất ở đây bởi dáng cổ kính với 16 cây cột to bằng gỗ lim đen bóng. Ngày xưa nhà như thế này là khá giả lắm. Trên bàn thờ, người phụ nữ tầm tuổi 50, gương mặt thật phúc hậu, bình thản nhìn cuộc đời đi qua vội vã. Tấm bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Kháng chiến hạng Ba viết tên ‘’Lưu Thị Nho”, tên thật của má. Còn “Trương” là tên người con trai đầu. Người miền Trung hay gọi theo con như thế. Kể về má của mình, chị Huỳnh Thị Mạnh nghẹn ngào: “Năm 1966, quê tôi là vùng mới giải phóng. Bộ đội hành quân về đây thường xuyên. Nhà tôi rộng rãi, vườn rậm rạp, lại có rất nhiều hầm nên các chú ở nhiều nhất, thường là Ban chỉ huy của đơn vị. Tôi biết vậy vì thấy có rất nhiều cán bộ có súng ngắn. Lúc ấy mới 14 tuổi nhưng tôi đã biết cùng các chị phụ giúp má cơm nước cho các chú (5 chị em tôi sau này đều đi thoát ly, du kích, có người là biệt động thành). Trước đó, cha tôi là ông Huỳnh Khai đã hy sinh khi địch phát hiện là cơ sở cách mạng. Chúng bắt lên đồn đánh đến tàn tạ, thả về không bao lâu thì qua đời. Mặc cho địch dòm ngó, má tôi vừa làm lụng ngoài đồng nuôi đàn con nhỏ và cha chồng mù hai mắt, vừa làm cán bộ phụ nữ thôn, sớm tối đi về.
Má Trương (áo đen) và các con. Lần đó. Có một đơn vị thông tin về đóng quân ở nhà tôi để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Mới đến chưa lâu thì hình như địch đánh hơi được, chúng nã ca nông dồn dập vào làng. Má bảo chúng tôi phân tán ra bên ngoài, đừng tập trung một chỗ, còn má phải ở nhà để bảo vệ bộ đội. Sau loạt pháo cấp tập, máy bay vần vũ ném bom. Làng quê yên bình bỗng chốc bị xé nát. Rồi máy bay trực thăng của địch đổ quân xuống một bãi cỏ. Những tên lính hung hăng tỏa đi các nhà. Ở bìa rừng, trưa hôm đó, tôi nghe tiếng lựu đạn nổ vang lên phía nhà mình mà ruột gan như lửa đốt. Chạng vạng, ngớt tiếng súng, tôi chạy ù về nhà, tìm ra căn hầm dưới gốc mít. Trời ơi, má tôi chết ngay miệng hầm, tư thế nằm sấp, người bê bết máu. Từ hai ngách hầm, ông nội tôi, chú Diên cán bộ huyện tăng cường và ba anh bộ đội cũng chạy lên ôm lấy má. Ông nội tôi bảo: “Con có thương má cũng để trong lòng chứ khóc to địch nó nghe thì sao”. Một chú bộ đội cõng tổng đài cồng kềnh nói nhanh với tôi: “Má đã hy sinh để bảo vệ các chú, cháu ơi!”. Khi biết các chú đang rất vội bởi nắm hệ thống thông tin của đơn vị, tôi đã đưa họ ra khỏi vườn, đi theo mương nước rồi luồn qua đám mía, thoát khỏi hiểm nguy. Địch đang phong toả khắp nơi, không thể nào đưa má lên được, mọi người quyết định lấp luôn căn hầm. Ba tháng sau, mới đào lên, cải táng má, chôn cất trong vườn. Từ khi má hy sinh, các chú bộ đội thỉnh thoảng vẫn về đây, thắp hương cho má, có để lại số liên lạc”. Má Trương, bà má anh hùng Anh Nguyễn Văn Phúc, chiến sĩ thông tin, người mang tổng đài 15 W được má cứu ngày nào hiện đã phục viên ở tại xã Đắc Sở, Hoài Đức, Hà Nội kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về má Trương: Trung đoàn 31 chúng tôi nguyên là Trung đoàn 64, Sư đoàn 320, bổ sung vào Sư đoàn H Quân khu 5 đầu năm 1966. Vào khoảng giữa năm, đơn vị vượt sông Thu Bồn về đứng chân ở Quế Sơn. Đại đội thông tin của chúng tôi đóng ngay trong làng Thạch Thượng, được gia đình má Trương che chở. Tôi vẫn nhớ như in bà má có dáng dấp to cao, hiền hậu, giọng Quảng nghe thật ấm áp. Hôm đó là sáng ngày 20-6-1966, địch phát hiện nơi đơn vị đóng quân nên huy động lực lượng lớn bao vây. Cả đơn vị triển khai chiến đấu. Tôi và 2 đồng chí báo vụ mang điện đài công kềnh được má Trương kéo chạy ra căn hầm to nhất, đẩy vào 2 ngách sâu của hầm, má còn đi thu bằng hết dây nhợ đưa vào trong hầm. Má nói: “Các con giữ nguồn thông tin của đơn vị, có mệnh hệ gì thì biết làm sao. Cứ nằm im trong hầm. Má tính”. Trong hầm đã có bố chồng của má Trương và một anh cán bộ huyện, sau này tôi được biết tên là Nguyễn Diên về xã tăng cường”. Chẳng mấy chốc chúng tôi nghe tiếng địch chạy ầm ào trên mặt đất, rất gần. Chúng đã phát hiện ra căn hầm và gọi hàng. Má Trương bình tĩnh ngồi ở miệng hầm nói vọng lên: “Hầm này chỉ người già cả thôi”. Chúng bảo má lên ngay, nếu không sẽ bắn chết. Má bảo:”Các ông làm gì thì làm, chứ tôi nhất quyết không lên”. Chúng bắn một loạt súng vào nóc hầm hăm dọa. Chúng tôi nói với má hãy đưa ông nội ra đi, còn chúng tôi sẽ chiến đấu với địch. Nhưng má vẫn gan góc không rời hầm một bước. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, má đè lên quả lựu đạn, hy sinh tại chỗ. Mảnh đạn văng vào ngách làm một đồng đội của tôi bị thương nhẹ. Bọn địch nghĩ đã “xoá sổ” Việt Cộng nên bỏ đi. Vậy là má đã nhận cái chết về phía mình để cứu chúng tôi, cứu hệ thống liên lạc của cả trung đoàn. Tấm lòng của má, của lòng dân Quảng Nam cao quý biết bao. Tiếc là chúng tôi chỉ kịp an ủi cháu Mạnh rồi đi làm nhiệm vụ, không kịp chôn cất má. Các đồng chí ở trong hầm ngày ấy, tôi cũng không gặp lại, được biết rằng có người đã hy sinh, cả chú Nguyễn Diên, cán bộ huyện… Đại đội trưởng Đại đội thông tin của của chúng tôi là anh Hoàng Trí Dũng mấy tháng sau trở lại Thạch Thượng đã sáng tác vở kịch “Tình quân dân’’ kể về hành động anh hùng của má Trương. Mỗi lần diễn, nhân dân trong làng và bộ đội đều xúc động không cầm được nước mắt. Chiếc áo bà ba của má rách tươm bởi đạn bom được lưu giữ đến hôm nay có lẽ đã được các anh xin lại gia đình trong thời gian đó”./.


